Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2014

Saudi Arabia – Iran: Dầu mỏ và những vấn đề trong quan hệ quốc tế thời kỳ hậu Mùa xuân Arab

Saudi Arabia – Iran: Dầu mỏ và những vấn đề trong quan hệ quốc tế thời kỳ hậu Mùa xuân Arab 


PGS.TS Bùi Nhật Quang
Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông

Saudi Arabia và Iran là hai nước lớn, có vai trò và ảnh hưởng đáng kể tại khu vực Trung Đông. Vai trò đó có được là dựa trên nền tảng sức mạnh hàng đầu của cả hai quốc gia về tiềm năng dầu mỏ và chính sách, chiến lược của mỗi nước trong việc phát huy tiềm năng này, đưa nó trở thành sức mạnh của quan hệ quốc tế. Nhìn nhận về tiềm năng dầu mỏ của Saudi Arabia và Iran với tư cách hai quốc gia xuất khẩu dầu hàng đầu tại khu vực Trung Đông, quan hệ dầu mỏ giữa hai quốc gia này cũng phát sinh nhiều vấn đề đáng chú ý, đó là:
- Tình hình mới về kinh tế, chính trị, an ninh thời kỳ hậu Mùa xuân Arab và nỗ lực cạnh tranh ảnh hưởng Iran - Saudi Arabia trong khu vực Trung Đông. Trong khi Saudi Arabia chịu tác động đáng kể của Mùa xuân Arab và đã thành công trong nỗ lực phục hồi ổn định thì Iran muốn tranh thủ biến động Mùa xuân Arab để mở rộng ảnh hưởng khu vực của nhà nước Hồi giáo Shia. Bối cảnh như vậy khiến cho biến động trong quan hệ Iran - Saudi Arabia thêm khó đoán định.
- Quan hệ dầu mỏ Iran - Saudi Arabia và các vấn đề liên quan tới cuộc khủng hoảng hạt nhân Iran, sức ép cấm vận của Mỹ chống Iran, bao gồm cả cấm vận về dầu mỏ. Sự can thiệp của các nước lớn vào tình hình Iran liên quan tới vấn đề dầu mỏ với cách tiếp cận khác nhau và các lợi ích cũng rất khác nhau. Một số nước vẫn trông chờ Iran là nguồn cung cấp dầu mỏ, khí đốt quan trọng, trong khi một số quốc gia phương Tây (Mỹ, các nước châu Âu) muốn tăng sức ép cấm vận, cản trở nguồn cung dầu mỏ của Iran ra thị trường quốc tế và kỳ vọng vào Saudi Arabia với vai trò bù đắp nguồn cung bị thiếu hụt.
1. Saudi Arabia và Iran trong bối cảnh Mùa xuân Arab và thời kỳ chuyển đổi hậu Mùa xuân Arab.
Biến động Mùa xuân Arab với khởi đầu ở Tunisia vào cuối năm 2010 đã nhanh chóng trở thành sự kiện đáng chú ý nhất của khu vực Trung Đông – Bắc Phi (MENA) trong những năm gần đây. Sau khi biến động trải qua thời điểm cao trào với sự sụp đổ của các chính phủ và sức ép cải cách toàn diện tại nhiều quốc gia khác thì toàn bộ khu vực hiện đã chuyển sang bước chuyển biến mới của thời kỳ hậu Mùa xuân Arab. Trong bối cảnh mới này, cả Saudi Arabia và Iran với vai trò hai quốc gia lớn thuộc khu vực MENA đã và đang chịu những tác động nhất định. Biểu hiện thấy rõ nhất chính là sự thay đổi về vị thế, ảnh hưởng khu vực của cả hai quốc gia gắn với các thay đổi về cấu trúc quyền lực, cấu trúc an ninh, chính trị, tôn giáo và kinh tế tại khu vực MENA thời kỳ hậu Mùa xuân Arab. Saudi Arabia và Iran tuy không trực tiếp diễn ra biến động dẫn tới lật đổ chính quyền như các trường hợp Tunisia, Ai Cập, Libya, v.v… nhưng cả hai quốc gia này vẫn chịu những tác động đáng kể của biến động, gồm cả các tác động trực tiếp và gián tiếp.
Đối với Saudi Arabia: Nhìn lại các sự kiện liên quan của biến động Mùa xuân Arab có thể thấy quốc gia này tuy không chịu tác động nặng nề, nhưng cũng xảy ra một số biểu tình vào năm 2011. Diễn biến đáng chú ý đầu tiên là việc một người đàn ông có tên Samtah Jizan đã châm lửa tự thiêu tại thị trấn Samtah, tỉnh Jizan ngày 21/1/2011 để phản đối các chính sách bất công của chính phủ. Sau đó đã có vài trăm người biểu tình phản đối tại Jeddah và các cuộc biểu tình lan rộng sang các thành phố Qatif, Al-Awamiyah và Riyadh. Ngày 11/3/2011, sự kiện biểu tình “Ngày phẫn nộ” đã được lên kế hoạch và sau đó các nhà tổ chức biểu tình đã bị lực lượng an ninh trấn an. Dù vậy, vẫn có vài trăm người tham gia biểu tình tại các thành phố Qatif, Hofuf và al-Amawiyah1.
Cho đến năm 2012, các sự kiện biểu tình phản đối chính phủ cũng diễn ra ở nhiều nơi với quy mô không lớn. Đòi hỏi của người biểu tình về cơ bản bao gồm các vấn đề như: (1) quyền bầu cử phổ thông của phụ nữ; (2) quyền được lái xe của phụ nữ, (3) thả các tù nhân chính trị; (4) trục xuất các lực lượng quân đội nước ngoài2; (5) quyền bình đẳng của các tín đồ Hồi giáo Shia; (6) xây dựng Hiến pháp và tăng quyền lập pháp cho vùng phía Đông.
Các yêu cầu của người biểu tình đặt ra với chính phủ tuy không ở mức độ tiến tới lật đổ chế độ như với nhiều quốc gia MENA khác, nhưng đối với Saudi Arabia đây đều là các vấn đề quan trọng, khiến cho nhà nước quân chủ chuyên chế phải đánh giá lại các chính sách quản lý xã hội của mình. Cũng trong các năm 2011 - 2012, sức ép quốc tế đối với Saudi Arabia trong việc cải cách, dân chủ hóa đã gia tăng, đòi hỏi quốc gia này phải nhìn nhận lại các vấn đề quan hệ quốc tế, đối ngoại và xác định lại vị thế quốc gia trong bối cảnh mới. Trước tình hình như vậy, Quốc vương Saudi Arabia đã phải đưa ra một loạt các biện pháp cải cách lớn, trong đó đáng kể nhất là tăng cường các khoản chi tiêu cải thiện cuộc sống cho người dân với gói tài chính trị giá 36 tỷ USD3 để ổn định chính trị - xã hội, kiểm soát lạm phát, đầu tư cho giáo dục, đào tạo, tạo việc làm và hỗ trợ công dân với các khoản cho vay ưu đãi. Ngoài ra, chính quyền đã có một số nhượng bộ về chính trị, kinh tế như tăng 15% lương cho công chức, cho phép phụ nữ được tham gia bầu cử kể từ kỳ bầu cử năm 2015, phụ nữ được chỉ định tham gia Hội đồng Tư vấn Quốc gia4, từng bước bãi bỏ việc giam giữ công dân mà không qua phán xét tại tòa án v.v…
Các biện pháp của chính phủ Saudi Arabia thực hiện trong các năm 2011 - 2013 đã từng bước giúp ổn định chính trị, xã hội, giúp Saudi Arabia vượt qua được cuộc khủng hoảng Mùa xuân Arab. Với vị thế được củng cố tốt hơn, Saudi Arabia tiếp tục thực hiện các chính sách đối ngoại thời kỳ hậu Mùa xuân Arab với tham vọng tăng cường ảnh hưởng khu vực, cạnh tranh với Iran tại các quốc gia chịu tác động của Mùa xuân Arab như Ai Cập, Yemen và tiếp tục cạnh tranh gay gắt với Iran trong cuộc khủng hoảng Syria. Diễn biến thực tế cho thấy biến động khu vực đã đưa cả Saudi Arabia và Iran vào vị thế rất khác so với trước khi Mùa xuân Arab bùng phát với sức ép cạnh tranh ngày càng tăng lên.
Đối với Iran: Biến động Mùa xuân Arab lại mang một ý nghĩa khác. Iran không thuộc thế giới Arab nhưng chia sẻ với các quốc gia Arab láng giềng nhiều giá trị chung về văn hóa, tôn giáo. Khi biến động bùng nổ với sự sụp đổ của một loạt các chính phủ Arab thân phương Tây và không có thiện cảm với Iran (Ai Cập, Tunisia, Yemen, v.v…), Iran nhìn nhận đây là cơ hội tiếp cận tốt để giới thiệu mô hình nhà nước Hồi giáo của mình cho các quốc gia thời kỳ hậu Mùa xuân Arab và từ đó tăng cường vị thế, ảnh hưởng khu vực của nhà nước Hồi giáo Shia trong tương quan với một cường quốc Hồi giáo Sunni là Saudi Arabia.
Mặc dù vậy, các diễn biến của Mùa xuân Arab không đi theo hướng mà Iran mong đợi. Minh chứng cụ thể là nỗ lực xích lại gần nhau giữa Iran và Ai Cập với sự kiện Tổng thống Ai Cập Morsi thăm Iran vào tháng 8 năm 2012. Đây được nhìn nhận như một cố gắng của Iran để gia tăng ảnh hưởng và định hướng cho các diễn biến tại Ai Cập thời kỳ hậu Mùa xuân Arab. Tuy nhiên, các sự kiện tiếp theo tại Ai Cập khiến cho ông Morsi bị lật đổ và quốc gia này đang tiếp tục có nhiều biến động khiến cho nỗ lực của Iran không thành công và sự lạc quan của Iran lúc đầu đã trở thành nỗi lo lắng ngày càng gia tăng. Không chỉ trong trường hợp Ai Cập, cuộc khủng hoảng và nội chiến tại Syria kéo dài nhiều năm đã tiếp tục cho thấy những vướng mắc của Iran trong phát huy vai trò khu vực thời kỳ hậu Mùa xuân Arab. Chính phủ của ông al-Assad tại Syria vẫn tồn tại được trong suốt nhiều năm là nhờ có sự hỗ trợ lớn của Iran và Nga nhưng ở phía bên kia chiến tuyến, lực lượng đối lập Syria đang nhận được sự hỗ trợ lớn của Saudi Arabia, Thổ Nhĩ Kỳ và các nước phương Tây. Như vậy, cuộc khủng hoảng Syria đã trở thành lăng kính để nhìn nhận về quan hệ cạnh tranh giữa Iran và Saudi Arabia với tư cách hai nước lớn tại Trung Đông.
Hệ quả là ảnh hưởng kinh tế, chính trị và xã hội của Iran trong khu vực MENA đang bị giảm sút. Đặc biệt, lợi thế của nguồn dầu mỏ phong phú từ trước tới nay luôn được Iran sử dụng như một vũ khí quan trọng để cạnh tranh quốc tế cũng phần nào bị mất đi trước sự nổi lên của Saudi Arabia trong quan hệ cạnh tranh. Với bối cảnh hậu Mùa xuân Arab, Hồi giáo chính trị đang nổi lên và trở thành nhân tố hưởng lợi đáng kể, nhưng bất chấp các nỗ lực của Iran, các đảng chính trị Hồi giáo trong khu vực đã không cần tới vai trò dẫn dắt của Iran hoặc ít nhất cũng không coi mô hình nhà nước của Iran là lựa chọn đáng quan tâm để xây dựng đất nước thời kỳ chuyển đổi. Những hy vọng đặt ra trong quan hệ Iran – Ai Cập đã nhanh chóng mất đi cùng với sự ra đi của ông Tổng thống Ai Cập Morsi. Đánh giá chung cho thấy Hồi giáo chính trị đang nổi lên tại các quốc gia hậu Mùa xuân Arab dường như rất khác so với mô hình nhà nước Hồi giáo của Iran. Quan trọng hơn, tại các quốc gia này, Hồi giáo chính trị đang làm tăng thêm tinh thần dân tộc chủ nghĩa Arab với nhiều tính cạnh tranh, đối kháng với nhà nước Shia kiểu Ba tư cũ đang hiện hữu tại Iran.
2. Quan hệ dầu mỏ Iran – Saudi Arabia và cuộc khủng hoảng hạt nhân Iran
Gắn với bối cảnh hậu Mùa xuân Arab và tiềm năng dầu mỏ của hai quốc gia, vấn đề quan hệ hợp tác – cạnh tranh giữa Saudi Arabia và Iran càng trở nên phức tạp, nhất là khi cuộc khủng hoảng hạt nhân Iran vẫn chưa thể có giải pháp nào thực sự phù hợp và Iran đang chịu lệnh cấm vận ngày càng thắt chặt của Mỹ và phương Tây.
Vấn đề quan hệ quốc tế giữa Iran và Saudi Arabia được nhìn nhận từ góc độ cả hai quốc gia này đều có trữ lượng dầu mỏ rất lớn (xem Hình 1) và những thay đổi trong nguồn cung dầu mỏ của cả hai quốc gia đều có khả năng gây ra những ảnh hưởng đáng kể đối với thị trường toàn cầu. Trữ lượng dầu mỏ lớn hàng thứ hai thế giới cho phép Saudi Arabia xuất khẩu khoảng 7,5 triệu thùng dầu/ngày trong năm 2012. Khi so sánh khối lượng dầu xuất khẩu này với Iran có thể thấy năng lực sản xuất của Iran những năm gần đây đạt trung bình 4 triệu thùng dầu/ngày và khoảng 2,5 triệu thùng/ngày được xuất khẩu5. Tuy nhiên, kể từ cuối 2011, một loạt các biện pháp trừng phạt, cấm vận của Mỹ và EU đã được áp đặt chống lại Iran với trọng tâm là cấm vận ngành dầu khí để tăng sức ép với quốc gia này trong đàm phán về chương trình hạt nhân gây tranh cãi. Ngay sau khi bị cấm vận, sản xuất dầu mỏ của Iran đã giảm sút nhanh chóng và các biện pháp trừng phạt đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng duy trì năng lực khai thác và xuất khẩu dầu. Số liệu của Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ cho biết, năm 2012 Iran chỉ xuất khẩu được 1,5 triệu thùng dầu thô/ngày và sản xuất dầu giảm còn khoảng 3 triệu thùng/ngày, giảm gần 20% so với năm 2011.
Hình 1. Nhóm 10 quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới (Tỷ thùng)
Nguồn: US Energy Information Administration (EIA), 2013
Việc giảm sút sản lượng dầu, khí đốt xuất khẩu do bị cấm vận là một tổn thất lớn cho Iran. Trên thực tế, Mỹ và các nước phương Tây thực hiện được lệnh cấm vận này là nhờ có sự trợ giúp của Saudi Arabia và một số quốc gia vùng Vịnh khác với vai trò nhà cung cấp dầu mỏ thay thế. Ngay trong năm 2012, khi mối lo ngại về thiếu hụt nguồn cung dầu do cấm vận Iran được nhiều quốc gia nhập khẩu dầu nêu ra, Saudi Arabia đã nhanh chóng đề xuất khả năng thay thế nguồn cung dầu này và một số nhà lãnh đạo Saudi Arabia thậm chí đã đề xuất những biện pháp cụ thể để triển khai các động thái trừng phạt đối với ngành dầu mỏ Iran6. Động thái này ngay lập tức làm cho quan hệ Iran – Saudi Arabia trở nên căng thẳng và phản ánh rõ thực trạng phức tạp khi hợp tác, khi cạnh tranh giữa hai quốc gia này. Có nhiều nguyên nhân lý giải cho quan hệ song phương hết sức phức tạp này, đặc biệt là khi cả Saudi Arabia và Iran đều dựa vào dầu mỏ, coi đó là công cụ quan trọng để cạnh tranh ảnh hưởng khu vực và ảnh hưởng trong thế giới Hồi giáo. Các nguyên nhân đó bao gồm:
- Ở góc độ hợp tác, Iran và Saudi Arabia cùng chia sẻ nhiều giá trị chung và có những lợi ích nhất định để tăng cường quan hệ hợp tác:
(1) Đứng từ quan điểm của Saudi Arabia, quốc gia này nhìn nhận Iran như một nước lớn trong khu vực với dân số hơn 80 triệu người – tức là gấp 3 lần dân số của Saudi Arabia. Ngoài ra, Iran và Saudi Arabia rất gần nhau về khoảng cách địa lý, trong khi đồng minh của Saudi Arabia là Mỹ còn cách xa đất nước này nửa vòng trái đất. Như vậy, mỗi biến động trong quan hệ song phương đều có thể đem lại những tác động nhanh và trực tiếp mà  Saudi Arabia phải đương đầu và khó có thể trông chờ được sự kịp thời của Mỹ.
(2) Đứng từ quan điểm của Iran, quốc gia này cũng nhìn nhận Saudi Arabia là quốc gia Hồi giáo quan trọng, có năng lực sản xuất, xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất trong khối OPEC mà cả Iran và Saudi Arabia đều là thành viên. Ngay trong khuôn khổ của OPEC, rõ ràng Iran rất cần hợp tác với Saudi Arabia để kiểm soát nguồn cung dầu mỏ theo hướng phù hợp với lợi ích quốc gia của mình. Ngoài ra, cả Iran và Saudi Arabia đều là thành viên của Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC) và đây là diễn đàn quan trọng, tạo ra khuôn khổ phù hợp để hai phía hợp tác với nhau do không ít thì nhiều, cả hai quốc gia đều chia sẻ những giá trị chung của thánh kinh Q’uran Hồi giáo và những giáo lý cơ bản, những trụ cột của đạo Hồi.
- Ở góc độ cạnh tranh ảnh hưởng, Iran và Saudi Arabia có nhiều lý do để cạnh tranh với nhau:
(1) Cả hai quốc gia đều muốn đóng vai trò lãnh đạo trong thế giới Hồi giáo và đều có quan điểm khác nhau về một trật tự khu vực cũng như về cách thức phát triển quan hệ quốc tế. Iran sau Cách mạng Hồi giáo (1979) đã luôn theo đuổi chính sách chống Mỹ, chống sự can thiệp của phương Tây, trong khi Saudi Arabia luôn là đồng minh quan trọng của Mỹ.
(2) Hệ tư tưởng của hai quốc gia cũng khác nhau. Saudi Arabia là quốc gia Hồi giáo Sunni theo dòng Salafi và luôn muốn bành trướng ảnh hưởng của Hồi giáo Salafi ra toàn cầu, trong khi Iran đại diện cho quốc gia có đông người Hồi giáo Shia nhất. Ngoài ra, Iran luôn tự hào mình là một quốc gia dân chủ Hồi giáo theo chế độ tổng thống và không đồng tình với mô hình Hồi giáo quân chủ chuyên chế như ở Saudi Arabia và một số quốc gia Arab khác.
(3) Một nguyên nhân gây căng thẳng quan trọng khác là quan điểm khác biệt của hai quốc gia trong khai thác và xuất khẩu dầu mỏ. Iran là quốc gia đông dân và trữ lượng dầu mỏ thấp hơn Saudi Arabia nên luôn muốn duy trì sản lượng khai thác ở mức độ vừa phải và giữ giá dầu ở mức cao nhằm tối đa hóa lợi ích. Saudi Arabia có dân số chỉ bằng 1/3 dân số Iran, lại có trữ lượng dầu lớn hơn nên không chia sẻ chính sách này với Iran và luôn sẵn sàng cung cấp thêm dầu ra thị trường để duy trì mức giá vừa phải, phục vụ cho các mục tiêu chiến lược khác trong cạnh tranh ảnh hưởng quốc tế.
(4) Chương trình hạt nhân gây tranh cãi của Iran cũng là nguyên nhân khiến cho xu hướng cạnh tranh và căng thẳng giữa Iran và Saudi Arabia ngày càng gia tăng. SaudiArabia luôn lo sợ Iran mở rộng ảnh hưởng ra toàn khu vực Trung Đông để phục hồi vị thế của Đế chế Ba Tư hùng mạnh một thời và nhìn nhận việc Iran phát triển chương trình hạt nhân là một mối đe dọa lớn tới cân bằng quyền lực khu vực và rộng hơn là mối đe dọa đối với thế giới Arab. Dù đã nhiều lần được phía Iran khẳng định về tính chất dân sự và kế hoạch phát triển năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình, nhưng rõ ràng Saudi Arabia và nhiều đồng minh phương Tây khác vẫn không thể chấp nhận lý giải này.
3. Vấn đề các nước lớn
Cả Iran và Saudi Arabia đều có đủ các lý do để cho quan hệ song phương trở thành mối quan hệ vừa hợp tác, vừa cạnh tranh. Tuy nhiên, dường như sức ép phải cạnh tranh ảnh hưởng luôn mạnh hơn động lực hợp tác và gắn kết ngay khi các nước lớn như Mỹ, các nước châu Âu, Nga, Trung Quốc thực hiện chính sách can dự vào khu vực. Sự can thiệp này khiến cho các xu hướng phát triển của quan hệ Iran – Saudi Arabia chịu nhiều tác động mạnh và tiếp tục biến động phức tạp, khó đoán định. Trong tương quan với các nước lớn này, Iran và Saudi Arabia tiếp tục bị chia rẽ trong nhiều vấn đề:
- Saudi Arabia hưởng ứng kêu gọi của Mỹ trong việc áp đặt cấm vận dầu mỏ chống Iran và sẵn sàng tăng sản lượng để bổ sung nguồn cung thiếu hụt của Iran. Cùng với đó, Trung Quốc không sẵn sàng hưởng ứng lệnh cấm vận của Mỹ do quốc gia này là nhà nhập khẩu lớn dầu mỏ Iran
- Trong một số trường hợp, khi các vấn đề liên quan tới cuộc khủng hoảng Iran còn chưa được dàn xếp thì giá dầu đã tăng và Nga với tư cách một quốc gia xuất khẩu dầu, khí đốt quan trọng lại được hưởng lợi.
- Quan hệ Iran – Saudi Arabia và các nước lớn cũng phát sinh rất nhiều bất đồng trong giải quyết khủng hoảng Syria. Trong khi Iran, Nga và một số lực lượng đồng minh khác ra sức bảo vệ chế độ của Tổng thống Syria al- Assad thì Saudi Arabia, Mỹ và các quốc gia phương Tây tìm mọi cách can thiệp để lật đổ ông Assad và đẩy tình hình Syria diễn biến theo chiều hướng có lợi cho phương Tây.
Trong hầu hết các vấn đề quan trọng này, lập trường của Iran, Saudi Arabia và các nước lớn như Mỹ, các nước châu Âu, Nga, Trung Quốc đã thể hiện những khác biệt đáng kể và những khác biệt này khiến cho cả khu vực Trung Đông luôn là điểm nóng của thế giới. Xét về thực chất, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nguồn gốc của phần lớn các vấn đề ở khu vực MENA, đặc biệt là các quốc gia Trung Đông đều xuất phát từ nguồn tài nguyên chiến lược dầu mỏ. Nếu MENA không có dầu mỏ, nếu Saudi Arabia và Iran không phải là những cường quốc xuất khẩu dầu, khí đốt, thì chắc chắn sự can thiệp của các nước lớn sẽ không trở nên căng thẳng như những gì đang diễn ra những năm gần đây, đồng thời các vướng mắc của phương Tây trong quan hệ với Iran sẽ không được chú ý nhiều. Thực tế cho thấy các nước lớn khi can thiệp vào khu vực MENA và đặc biệt là trong quan hệ với hai quốc gia dầu mỏ hàng đầu Saudi Arabia và Iran đều hướng tới nguồn tài nguyên dầu mỏ để định hướng các hoạt động sản xuất, xuất khẩu cho phù hợpvới lợi ích quốc gia của mình. Sự cạnh tranh gay gắt của các nước lớn ở một chừng mực nhất định đã làm cho cả khu vực thêm bất ổn và tiến trình phát triển kinh tế, xã hội trở nên mất cân đối. Đánh giá của David Pryce-Jones10 trong nghiên cứu về lịch sử Trung Đông cận, hiện đại cho rằng khu vực này đang ngày càng trở nên tụt hậu so với châu Âu, Trung Quốc và thậm chí so với nhiều quốc gia đang phát triển khác nếu xét về các tiêu chí sản xuất, thương mại, giáo dục, truyền thông và nhiều lĩnh vực phát triển xã hội khác. Một minh chứng cho nhận định này là giả định nếu không tính tới dầu mỏ, tổng giá trị xuất khẩu của thế giới Arab thậm chí còn ít hơn giá trị xuất khẩu của Phần Lan - một nước nhỏ của châu Âu với hơn 5 triệu dân. Dù vậy, không thể không thừa nhận rằng những khó khăn, vướng mắc của các quốc gia dầu mỏ khu vực MENA một phần là do can thiệp, cạnh tranh ảnh hưởng, tranh dành nguồn lợi dầu mỏ của các nước lớn gây ra.
Hộp: Quan hệ Saudi Arabia – Iran và Mỹ
Quan hệ giữa Saudi Arabia, Iran và các nước lớn mà đại diện là Mỹ là quan hệ phức tạp giữa cạnh tranh, hợp tác và kiềm chế lẫn nhau. Saudi Arabia và Mỹ có quan hệ đồng minh truyền thống trong suốt hơn 60 năm qua và Saudi Arabia đã là đối tác chủ chốt của Mỹ trong việc can thiệp vào các vấn đề an ninh, chính trị, xung đột tại Trung Đông. Mặc dù vậy, khi đề cập về chính sách của Mỹ với Iran, quan điểm của Saudi Arabia luôn thể hiện những khác biệt với những phản ứng hết sức thận trọng. Điều này là do Saudi Arabia nhìn nhận Iran là một mối đe dọa lớn của khu vực, là một cường quốc khu vực có khả năng gây ra nhiều phiền toái cho Saudi Arabia. Do vậy, an ninh của Saudi Arabia là vấn đề luôn được đặt lên trên hết và để đảm bảo an ninh, Saudi Arabia cần một chính sách phù hợp để quan hệ với Iran tuy có thể không phải là quan hệ tốt nhưng cũng không trở nên quá mức thù địch7.
Từ yêu cầu thực tế như vậy, trong khi Mỹ luôn duy trì chính sách thù địch với Iran và áp đặt các biện pháp cấm vận, trừng phạt kinh tế để cản trở chương trình hạt nhân Iran thì Saudi Arabia tuy chia sẻ với Mỹ về vấn đề này nhưng vẫn giữ quan hệ phù hợp với Iran. Ngay từ năm 2007, Tổng thống Iran Ahmadinejad đã nhận lời mời của Quốc vương Abdullah đến thăm chính thức Saudi Arabia và truyền thông của cả hai nước đã ca ngợi quan hệ của “hai quốc gia anh em”. Lãnh đạo hai nước đã gặp gỡ và thảo luận về sự cần thiết phải bảo vệ thế giới Hồi giáo. Trong một động thái khác, Ngoại trưởng Saudi Arabia - Thái tử Faisal trong cuộc họp báo chung năm 2009 với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã phát biểu rằng “mối đe dọa Iran cần phải có giải pháp tức thì hơn là các lệnh trừng phạt”8. Tuyên bố này ngay sau đó đã bị các lãnh đạo Iran lên án gay gắt. Tháng 11/2011, phía Mỹ đã cáo buộc Iran về việc lên kế hoạch ám sát Đại sứ Saudi Arabia tại Mỹ năm 2013, Đại sứ Saudi Arabia tại Anh đã viết bài trên tờ The New York Times chỉ trích phương Tây đã “không có những hành động đủ mạnh để chống lại Syria và Iran, làm cho Trung Đông bất ổn và buộc Saudi Arabia phải trở nên cứng rắn hơn trong các vấn đề quốc tế9.
Nguồn: Tổng hợp thông tin của tác giả
3. Một số nhận định, đánh giá chung
Trong tương quan với các nước lớn và với Saudi Arabia trong vai trò một cường quốc khu vực, đồng minh của phương Tây, Iran đã và đang phải chịu sức ép nặng nề. Nếu nhìn nhận suốt chiều dài lịch sử của khu vực, quan hệ cạnh tranh Iran – Saudi Arabia không phải mới hình thành mà là vấn đề mang tính lịch sử, gắn với nhận thức của cả hai phía về chủ nghĩa dân tộc. Một bên, Saudi Arabia đại diện cho một quốc gia quan trọng của thế giới Arab với mong muốn dẫn dắt các xu hướng phát triển của cả khu vực MENA. Ở phía bên kia, Iran cũng luôn tự hào về dân tộc Ba Tư có lịch sử phát triển lâu đời và mong muốn kế thừa, phát triển các di sản của Đế chế Ba Tư hùng mạnh một thời. Xét từ góc độ cả Iran và Saudi Arabia đều là hai quốc gia Hồi giáo lớn, thì Saudi Arabia đại diện cho quốc gia “gốc” của Hồi giáo, sở hữu hai thánh địa Medina và Mecca và đang nỗ lực phát triển Hồi giáo Sunni Salafi. Iran hiện nay là nơi tập trung đông nhất của các tín đồ Hồi giáo dòng Shia và xét từ góc độ tôn giáo, không ít thì nhiều đều có quan điểm và nhận thức khác biệt so với Saudi Arabia về các vấn đề của thế giới Hồi giáo cũng như các vấn đề quốc tế khác.
Những khác biệt giữa Iran và Saudi Arabia đã và đang đẩy hai quốc gia này vào tình thế cạnh tranh trong nhiều lĩnh vực dựa trên cơ sở một điểm chung của cả hai phía – đó là trữ lượng dầu mỏ lớn hàng đầu thế giới. Vấn đề đặt ra là điểm chung này không giúp Saudi Arabia và Iran xích lại gần nhau mà lại làm cho quan hệ dầu mỏ của hai quốc gia thêm phức tạp do dầu mỏ được sử dụng như một vũ khí chiến lược trong chính sách đối ngoại của cả hai nước. Tiếp đó, sự can thiệp của các nước lớn vào khu vực Trung Đông, đặc biệt là can thiệp của Mỹ và các nước châu Âu làm cho các vấn đề trong quan hệ dầu mỏ Iran – Saudi Arabia thêm phức tạp. Iran luôn sử dụng dầu mỏ như một công cụ gây ảnh hưởng quốc tế và như một vũ khí quan trọng để đối đầu với Mỹ và phương Tây. Ở phía bên kia, Saudi Arabia là đồng minh quan trọng của Mỹ trong khu vực, đã sử dụng sức mạnh dầu mỏ của mình để hỗ trợ phương Tây trong việc giảm thiểu tác động của dầu mỏ Iran đối với thế giới, tức là đã đóng vai trò kiềm chế và ngăn chặn ảnh hưởng quốc tế của Iran.
Với sự can thiêp của phương Tây và chính sách thân Mỹ của Saudi Arabia, sản lượng dầu mỏ của Iran đã giảm mạnh trong những năm gần đây. Mỹ và EU từng bước áp đặt các biện pháp trừng phạt nhằm vào ngành dầu mỏ của Iran như ngăn chặn quốc gia này xuất khẩu dầu, cấm đầu tư quy mô lớn vào ngành dầu mỏ Iran và ngăn chặn khả năng tiếp cận của Iran tới các nguồn tài chính cũng như các công cụ thanh toán, giao dịch khác. Trong các năm 2012 - 2013, lệnh cấm vận tiếp tục được thắt chặt nhằm vào Ngân hàng Trung ương Iran, ngăn cản việc cung cấp dịch vụ bảo hiểm và tái bảo hiểm dầu mỏ, đẩy Iran vào tình trạng khó khăn kinh tế nghiêm trọng. Mặc dù vậy, Iran vẫn còn một công cụ ứng phó quan trọng khác là khả năng kiểm soát eo biển Hormuz ở bờ biển phía Đông Nam của quốc gia này. Eo biển Hormuz là tuyến đường biển có tầm quan trọng chiến lược sử dụng cho xuất khẩu dầu của Iran và nhiều quốc gia vùng Vịnh khác. Điểm hẹp nhất của eo biển Hormuz chỉ có 39 km và ước tính hiện có khoảng 17 triệu thùng dầu được vận chuyển qua eo biển Hormuz/ngày, tương đương với 20% tổng khối lượng dầu được vận chuyển trên thế giới và 35% tổng khối lượng dầu vận chuyển đường biển11. Trong những lúc đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng, đối đầu giữa Iran và phương Tây, quốc gia này đã từng tuyên bố sẽ đóng cửa eo biển Hormuz và ngăn chặn dòng luân chuyển dầu mỏ qua eo Hormuz. Nếu điều này được thực hiện thì chắc chắn sẽ gây tác động nghiêm trọng tới thị trường dầu mỏ toàn cầu và gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nước lớn tiêu thụ nhiều dầu mỏ cũng như cho khả năng xuất khẩu dầu của tất cả các quốc gia vùng Vịnh.
Tóm lại, quan hệ Iran – Saudi Arabia là quan hệ song phương quan trọng hàng đầu trong khu vực Trung Đông – Bắc Phi. Khi yếu tố dầu mỏ được tính tới thì quan hệ song phương này còn có tầm ảnh hưởng toàn cầu. Đây cũng chính là lý do mà quan hệ song phương Iran – Saudi Arabia đang bị quốc tế hóa và trở thành quan hệ đa phương hết sức phức tạp với sự can thiệp của các nước lớn như Mỹ, các nước châu Âu, Nga, Trung Quốc, v.v… Ngay đối với Việt Nam, quan hệ quốc tế giữa Saudi Arabia và Iran cũng là nhân tố rất quan trọng cần được tính tới để từ đó xác lập được chính sách phù hợp giúp Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại mở cửa, hợp tác với toàn khu vực Trung Đông – Bắc Phi.
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông số 5/2014


Tại sao Trung Quốc phải chú ý đến cuộc xung đột Israel-Palestine?

Tại sao Trung Quốc phải chú ý đến cuộc xung đột Israel-Palestine?

Bắc Kinh muốn duy trì tính trung lập trong vấn đề Israel-Palestine, nhưng dư luận Trung Quốc ngày càng bị phân cực trong vấn đề này.

Đó là nhận xét của ông Mu Chunshan, một nhà báo tại Bắc Kinh. Trước đây, ông là một thành viên trong Chương trình nghiên cứu về ảnh hưởng của truyền thông nước ngoài trong việc định hình hình ảnh của Trung Quốc do Bộ Giáo dục nước này hậu thuẫn. Trong bài bình luận mới đây trên trang mạng Diplomat với tiêu đề: “Tại sao Trung Quốc phải chú ý đến cuộc xung đột Israel-Palestine”, ông Chunshan đã đưa ra một số nhận xét sau:
Căng thẳng ở Trung Đông đã tăng lên rất nhiều khi Israel thực hiện các cuộc không kích (và hiện nay là chiến dịch tấn công trên bộ) chống lại phong trào Hồi giáo Hamas ở Dải Gaza. So với những phản ứng mạnh mẽ từ Mỹ và các nước phương Tây, quan điểm chính thức của Trung Quốc về cuộc khủng hoảng này khá là mờ nhạt và cẩn trọng. Tuy nhiên, cư dân mạng của Trung Quốc lại thể hiện cảm xúc và sự quan tâm mạnh mẽ về cuộc xung đột đang diễn ra này. Vậy điều gì đang xảy ra?
Xe tăng Israel oanh kích Dải Gaza. Ảnh: AFP/TTXVN
Xe tăng Israel oanh kích Dải Gaza. Ảnh: AFP/TTXVN
Để hiểu về những thái độ của cư dân mạng, trước tiên, chúng ta phải hiểu quan điểm của Trung Quốc về mối quan hệ Israel-Palestine. Trong nhiều thập kỷ, Trung Quốc đã không tìm cách tránh xa cuộc xung đột. Dưới thời Mao Trạch Đông, Trung Quốc đứng về phía Palestine. Cựu lãnh đạo Trung Quốc như Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình đã hỗ trợ gần như vô điều kiện cho sự nghiệp cách mạng do ông Yasser Arafat lãnh đạo, người được gọi là "một người bạn cũ của người Trung Quốc". Do vậy, Phong trào Giải phóng Palestine (PLO) đã được Trung Quốc viện trợ cả tiền và vũ khí.
Trường hợp Palestine là một ví dụ hiếm hoi của về việc Trung Quốc can thiệp trực tiếp vào các vấn đề của Trung Đông. Bên cạnh ví dụ về chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong giai đoạn này, hỗ trợ cho Palestine cũng đại diện các tính toán chính trị của Bắc Kinh. Vì Palestine có sự ủng hộ mạnh mẽ từ các quốc gia Arập khác, lập trường của Trung Quốc đã giúp nước này giành được ảnh hưởng trong thế giới thứ ba. Trong hoàn cảnh này, Trung Quốc không sẵn sàng chấp nhận lời đề nghị đàm phán từ Israel. Mặc dù Israel là nước đầu tiên ở Trung Đông thừa nhận sự ra đời của Trung Quốc, hai nước không thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức cho đến năm 1992.
Trong những năm 1980, Trung Quốc bắt đầu từ bỏ ngoại giao ý thức hệ có định hướng như một phần của quá trình cải cách và mở cửa. Trung Quốc dần dần bắt đầu có quan hệ với Israel. Lý do khá đơn giản: công nghệ quốc phòng của Israel là hấp dẫn đối với Trung Quốc. Công nghệ tiên tiến và đầu tư của Israel cũng là một sự lựa chọn tốt với nhu cầu phát triển của Trung Quốc. Hiện nay, trao đổi quân sự và hợp tác kinh tế Trung Quốc-Israel đã trở thành hai trụ cột chính cho quan hệ song phương. Đồng thời, lập trường của Trung Quốc về cuộc xung đột Israel-Palestine đã thay đổi từ việc cáo buộc các hành động đơn phương của Israel trở thành lập trường trung lập. Palestine không hài lòng với điều này, nhưng không có lựa chọn nào khác và phải chấp nhận sự thay đổi này.
Điều thú vị là, mặc dù chính phủ Trung Quốc đã không thực hiện bất kỳ hành động nào liên quan đến cuộc khủng hoảng hiện tại, dư luận nước này đã bị chia rẽ thành hai nhóm riêng biệt. Trong các diễn đàn trực tuyến, một bên (chủ yếu là người Hồi giáo) lên án Israel. Họ đã bắt đầu kêu gọi Trung Quốc thể hiện quan điểm chỉ trích cuộc tấn công vào Dải Gaza như các nước phương Tây. Phía bên kia của cuộc tranh luận là cư dân mạng ủng hộ Israel (chủ yếu là phi Hồi giáo). Ý kiến ​​của họ nhấn mạnh sự phê phán mạnh mẽ đối với chủ nghĩa cực đoan và khủng bố; họ thậm chí còn cho rằng bất cứ ai phản đối các hoạt động quân sự của Israel được coi là có tình cảm với chủ nghĩa khủng bố. Hai nhóm trên ở Trung Quốc đã nổ ra một cuộc tranh luận nảy lửa về một cuộc xung đột đang diễn ra ở Trung Đông cách xa Trung Quốc hàng nghìn km. Israel và Palestine có thể không bao giờ ngờ được điều này trước khi bắt đầu cuộc xung đột.
Tất nhiên, cũng có một số người có ý kiến trung lập, ủng hộ quyền của Israel bảo đảm an ninh trong khi phản đối sự giết hại quá nhiều người. Quan điểm này phù hợp với báo cáo chính thức của chính phủ Trung Quốc về cuộc xung đột Israel-Palestine.
Mặc dù chính phủ Trung Quốc đã tìm cách giữ im lặng và cân bằng ngoại giao giữa Israel và Palestine, nước này cũng có nguy cơ phải đối mặt với mối đe dọa từ chủ nghĩa khủng bố và chủ nghĩa cực đoan. Do đó, Bắc Kinh khó có thể đứng ngoài cuộc xung đột hoàn toàn. Sự an toàn của khu vực miền tây Trung Quốc có liên hệ chặt chẽ với an ninh của Trung Đông. Nghiêm trọng hơn, dư luận Trung Quốc đã tham gia vào cuộc khủng hoảng này một cách bất ngờ. Những bình luận trực tuyến từ cư dân mạng không chỉ thể hiện sự tán gẫu nhàn rỗi: chúng đại diện cho những kỳ vọng khác nhau và hy vọng về quản trị xã hội cũng như chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc, truyền thông và xã hội cần phải đối mặt với thực tế này và tìm ra biện pháp thích hợp để giải quyết vấn đề.
Cuộc xung đột Israel-Palestine là khá phức tạp. Cuộc xung đột qua lại này đã diễn ra trong nhiều thập kỷ và không thể mô ta bằng những từ ngữ đơn giản “công bằng” và “không công bằng”. Là một quốc gia có dân số Hồi giáo lớn, Trung Quốc cần phải chú ý đến cuộc tranh luận công khai về cuộc xung đột Israel-Palestine. Các cuộc tranh luận trực tuyến có thể là một điểm khởi đầu cho sự hiểu biết về các vấn đề xã hội tiềm ẩn trong chính Trung Quốc.
Trong khi đó, Trung Quốc cũng có để tránh quá ca ngợi cuộc tấn công của Israel chống khủng bố. Nếu không hoạt động chống Hamas của Israel có thể trở thành công cụ cho những người muốn tấn công tất cả người Hồi giáo. Tình cảm chống khủng bố đi quá giới hạn sẽ gây nguy hiểm cho Trung Quốc ở trong nước, và cũng có thể gây tổn hại lợi ích chính trị và kinh tế của Bắc Kinh ở Trung Đông./

Tổ chức anh em Hồi giáo Ai Cập và cuộc chiến Hồi giáo – Thế tục vì quyền lực

Tổ chức anh em Hồi giáo Ai Cập và cuộc chiến Hồi giáo – Thế tục vì quyền lựcPGS.TS Nguyễn Thanh Hiền
Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông
1. Một số nét khái quát về Tổ chức Anh em Hồi giáo Ai Cập 
Tổ chức Anh em Hồi giáo là một lực lượng chính trị lâu đời tại Ai Cập do Hassan al-Banna sáng lập. Tổ chức này được thành lập từ năm 1928, nhưng đến năm 1940 bị giải thể. Vì vậy, nó bị coi là tổ chức bất hợp pháp, đặc biệt bị truy đuổi rất gắt gao dưới thời Tổng thống Nasser trong những năm 1950- 1960. Phương châm của tổ chức được cho là phải làm hồi sinh đạo Hồi, đưa ngọn cờ của nó đến toàn thể nhân loại; các tín đồ có sứ mệnh giáo dục thế giới theo nguyên lý của Hồi giáo, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh vì sứ mệnh đó. Vì phương châm mang nặng màu sắc chính trị - tôn giáo như vậy nên tổ chức này bị các chính quyền thế tục ở Ai Cập coi là đối thủ cần phải loại bỏ. Sau thời Tổng thống Nasser, Tổ chức Anh em Hồi giáo đã bí mật được khôi phục lại vào những năm 1970 dưới thời Tổng thống Anouar el-Sadate. Sang thời Tổng thống Mubarak, tổ chức này vẫn bị cấm ra ứng cử với tư cách là một tổ chức, tuy nhiên những thành viên của nó có thể ra ứng cử với tư cách độc lập nhưng số lượng ứng cử viên luôn bị giới hạn. Để ngăn chặn ảnh hưởng của Tổ chức Anh em Hồi giáo trong lĩnh vực chính trị, chính quyền thời Mubarak cho phép nó được hoạt động chỉ trong lĩnh vực xã hội với các hướng chính là làm từ thiện, quyên góp giúp đỡ trẻ em và người nghèo khó trong y tế, giáo dục và trong sinh hoạt hàng ngày.
Chính các hoạt động trong lĩnh vực xã hội của Tổ chức Anh em Hồi giáo đã làm cho nó là tổ chức chính trị duy nhất cắm rễ sâu trong nhân dân, có uy tín nhất đối với các tầng lớp nghèo trong xã hội. Một đặc điểm của tổ chức này là đa phần thành viên của nó lại xuất thân từ các tầng lớp trung lưu, nhiều người trong số họ thuộc giới trí thức, được học tập, đào tạo và có địa vị nhất định trong xã hội.
Có những nhận xét cho rằng Tổ chức Anh em Hồi giáo là chuẩn mực tư tưởng đối với nhiều nhóm Hồi giáo chính trị, kể cả Al-Qaeda. Tại Ai Cập, Tổ chức đã có nhiều đóng góp cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập. Xuất phát từ chủ nghĩa dân tộc, chính những người trí thức nhận được nền giáo dục phương Tây lại có tư tưởng chống lại mạnh nhất ảnh hưởng của phương Tây trong thế giới Hồi giáo. Vì có sức mạnh lan toả nên ảnh hưởng của Tổ chức Anh em Hồi giáo đã phát triển trong khắp khu vực, nhất là ở Bắc Phi (Ai Cập, Sudan, Algeria, Libya, cả ở Tunisia và Morocco với mức độ thấp hơn).
Nhìn lại lịch sử cận hiện đại Ai Cập có thể thấy cuộc đấu tranh giữa phe thế tục và phe Hồi giáo kéo dài âm ỉ và liên tục. Khi lực lượng quân đội Ai Cập - đại diện cho tư tưởng thế tục, giành quyền kiểm soát nhà nước quân chủ Ai Cập từ tay vua Farouk năm 1952 cũng là lúc đẩy mâu thuẫn thế tục- Hồi giáo lên cao bởi mong muốn giành quyền lực của lực lượng Hồi giáo lúc đó đã bị thất bại. Tướng Nasser trở thành tổng thống được lòng dân của Ai Cập nhưng lại trở thành mục tiêu tấn công của lực lượng Hồi giáo và của cả phương Tây bởi tư tưởng chủ nghĩa dân tộc của ông. Tư tưởng Nasser là các dân tộc Arab phải đoàn kết với nhau trên cơ sở cùng dân tộc để chống lại kẻ thù của mình là nhà nước Israel theo thể chế phương Tây đang ngự trị ngay trong lòng thế giới Hồi giáo. Song tư tưởng này của Nasser lại mâu thuẫn với tư tưởng của Tổ chức Anh em Hồi giáo là dựa trên nền tảng tôn giáo là đạo Hồi để thống nhất lực lượng nhằm chống lại tư tưởng thế tục nói chung. Điều này đã dẫn đến cuộc chiến đấu rất quyết liệt của Tổ chức Anh em Hồi giáo chống lại chính quyền Nasser cũng như chính quyền Mubarak sau này.
Tuy nhiên, chính quyền Mubarak đã có những biện pháp khôn khéo đối với Tổ chức Anh em Hồi giáo khi cho hoạt động giới hạn trong không gian xã hội và văn hoá, cho họ một số hợp đồng kinh tế có lợi, đồng thời mọi hành động “chệch hướng” của tổ chức này đều bị chấn chỉnh ngay lập tức.
Nhằm tìm hướng thoát khỏi kìm kẹp, Tổ chức Anh em Hồi giáo đã tham gia hoạt động chính trị với tư cách là lực lượng đối lập trong quốc hội. Nhằm tìm được tiếng nói hoà đồng hơn trong thời đại hiện đại, nhiều thành viên của Tổ chức đã chuyển sang sử dụng Âu phục, đồng thời họ tăng cường công tác tuyển mộ trong giới trí thức, những người tốt nghiệp các trường đại học danh giá.
Bị thăng trầm song cuộc chiến Thế tục - Hồi giáo ở Ai Cập chưa bao giờ kết thúc. Kể từ khi nhà nước Cộng hoà Ai Cập ra đời cho đến nay cuộc chiến này đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho phe thế tục: Tổng thống Sadat bị một tín đồ Hồi giáo ám sát và Tổng thống Mubarak bị lật đổ bởi Phong trào Mùa xuân Arab, trong đó có không ít những người thuộc phe Hồi giáo chính trị.
Có thể nói rằng Mùa xuân Arab diễn ra trên đất nước Ai Cập đã mang lại cơ hội mới cho Tổ chức Anh em Hồi giáo. Trước tiên là việc các thủ lĩnh của tổ chức này bị giam cầm bấy lâu trong nhà tù đã được phóng thích sau khi Mubarak bị lật đổ. Trong số này có những tên tuổi như Khairat al-Shater hay About al-Zoummor và Tareq, là những lãnh đạo của Tổ chức và đã tham gia ám sát Tổng thống Sadate. Thứ hai là tạo cơ hội cho tổ chức này tham gia vào sân chơi chính trị.
Cũng như ở các quốc gia Trung Đông - Bắc Phi khác, Tổ chức Anh em Hồi giáo Ai Cập không phải là người khơi mào cho phong trào nổi dậy, không trực tiếp tham gia từ đầu phong trào này. Họ là những người quan sát và chớp lấy thời cơ để thực hiện giấc mơ quyền lực chính trị từ bấy lâu nay.
Họ có những lợi thế không thể không nhắc đến. Thứ nhất, trong số những người xuống đường biểu tình có rất nhiều người là tín đồ Hồi giáo, rất nhiều thanh niên thất nghiệp và người nghèo. Đây sẽ là các cử tri ủng hộ cho họ. Thứ hai, tổ chức này tỏ ra là một chính đảng có tổ chức và tham vọng chính trị rõ nét nhất trong bối cảnh biến động của phong trào Mùa xuân Arab. Họ có mạng lưới chân rết lâu đời và rộng khắp các địa phương trong cả nước. Thứ ba, họ lợi dụng đựơc mục tiêu lật đổ chế độ của những người biểu tình không phù hợp với mục tiêu thay đổi chế độ của Mỹ. Có những ý kiến cho rằng việc họ lên nắm quyền lực có thể coi như là một sự thay đổi chế độ ở Ai Cập và điều này trùng hợp với ý đồ của Mỹ và phương Tây.
Tại Ai Cập, Hồi giáo chính trị đã có một bước tiến ngoạn mục khi giành được quyền lực nhà nước. Ai Cập cũng là nước Trung Đông duy nhất tuyên bố cuộc nổi dậy và lật đổ Tổng thống Mubarak là một cuộc cách mạng. Tổ chức Anh em Hồi giáo đã giành thắng lợi lớn tại cuộc bầu cử quốc hội năm 2011- 2012 tại Ai Cập. Đảng Tự do và Công lý được thành lập và dẫn dắt bới Tổ chức Anh em Hồi giáo đã đạt 47% phiếu bầu khi chiếm 235/489 ghế. Bên cạnh đó Đảng Salafis Al-Nour cũng giành khoảng 28% phiếu và 123 ghế. Nhìn chung, phe Hồi giáo chính trị đã bước lên vũ đài chính trị Ai Cập một cách ngoạn mục và cho dù thế nào thì sự kiện này đã để lại một dấu ấn lịch sử đặc biệt.
2. Cuộc chiến Hồi giáo - Thế tục quyết liệt tại Ai Cập
Bối cảnh lịch sử Ai Cập thời điểm diễn ra các cuộc bầu cử trong năm 2012 hết sức phức tạp. Sau khi Mubarak bị lật đổ, dường như chế độ cũ vẫn còn tồn tại do cơ quan quân sự chính của đất nước là Hội đồng tối cao các lực lượng vũ trang (CSFA) tiếp tục tồn tại và tiếp tục duy trì quyền lực nhà nước cho đến ngày bầu cử quốc hội và tổng thống mới. Trên thực tế, quân đội trở thành một lực lượng chính trị quan trọng sau khi Mubarak bị phế truất; họ tổ chức và giám sát tiến trình chuyển tiếp, bổ nhiệm thủ tướng và các thành viên chính phủ để chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử tháng 6/2012, đồng thời tiếp tục bảo đảm an ninh trong nước.
Tuy nhiên, trong một bối cảnh chung của cả khu vực Trung Đông là Hồi giáo chính trị đang nổi lên sau cuộc cách mạng, lực lượng quân đội Ai Cập vẫn luôn mong muốn có một hiến pháp đảm bảo cho họ quyền bảo vệ tính thế tục của Ai Cập. Ở đất nước này, thế tục là một lập trường chính trị được nhiều người Ai Cập ủng hộ. Quân đội Ai Cập luôn khẳng định rằng không muốn Ai Cập trở thành một nước thần quyền. Tổng thống Morsi giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống ở Ai Cập, nhưng trong bối cảnh lực lượng quân đội mạnh như vậy thì chẳng có gì đảm bảo rằng ông này có thể thực sự nắm quyền. Tiếp quản một đất nước phải đối mặt với cuộc khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội sâu sắc, ông Morsi muốn điều hành được đất nước để thoát khỏi tình trạng này thì phải thương lượng với các lực lượng chính trị, đặc biệt là với quân đội. Người ta cho rằng nội dung của những thoả thuận và thương lượng chí ít là quân đội phải nhận đựơc sự bảo đảm rằng lực lượng Anh em Hồi giáo không can thiệp vào các khoản đầu tư, các hợp đồng kinh tế và ngân sách của quân đội; thêm vào nữa quân đội vẫn được quyền thực hiện chức năng trấn áp và bảo vệ an ninh cho quốc gia. Hội đồng tối cao các lực lượng vũ trang (SCAF) sau khi cai trị đất nước Ai Cập gần 1 năm rưỡi (từ khi Mubarak bị lật đổ đầu năm 2011 đến khi bầu cử tháng 6 năm 2012) đã trao lại quyền hành cho Tổng thống đắc cử Morsi.
Về phía mình, Tổng thống Morsi và Tổ chức Anh em Hồi giáo đã tìm cách phát triển lực lượng của mình và từng bước củng cố quyền lực chính trị. Khó khăn đối với Tổ chức Anh em Hồi giáo là không gian chính trị ở Ai Cập là không gian mang tính chất đa nguyên. Thời kỳ chuyển tiếp ghi nhận sự tồn tại của nhiều lực lượng chính trị và nhiều trào lưu chính trị khác nhau: thế tục, tự do, Hồi giáo bảo thủ, Hồi giáo ôn hoà, quân đội, người muốn bảo vệ chế độ cũ… Có 4 khối chính trị đang cố gắng vượt lên trên chính trường: Lực lượng Hồi giáo chính trị, lực lượng thế tục, thanh niên cách mạng, tàn dư của chế độ cũ. Họ xác định mục tiêu cho mình và để đạt được các mục tiêu đó họ tìm cách thoả hiệp và liên minh tạm thời với các nhóm còn lại. Nếu Tổng thống Morsi và Tổ chức Anh em Hồi giáo không thương lượng, thoả hiệp và tôn trọng sự đa nguyên này thì rất khó duy trì quyền lực lâu dài. Hơn nữa, cuộc đấu tranh giữa quân đội/thế tục với Anh em Hồi giáo/ Hồi giáo chính trị là cuộc đấu tranh cam go, quyết liệt và dai dẳng. Lực lượng quân đội có nhiều lợi ích, nhiều đặc quyền về tài chính, kinh tế và quân sự trong chế độ cũ; chế độ đó bảo vệ các lợi ích và ảnh hưởng đó của họ. Còn đối với Tổng thống Morsi và Đảng Hồi giáo của ông này về lâu dài cũng không thể cam chịu mãi thực trạng này nên khi ý thức đựơc mong muốn và các toan tính của giới quân đội, phe Hồi giáo sẽ phải có những nước cờ riêng cho mình.
Cuộc đấu Thế tục- Hồi giáo đã làm cho tất cả rơi vào cuộc khủng hoảng tại quốc hội. Tháng 3 năm 2012 quốc hội do phe Hồi giáo chiếm đa số quyết định thành lập Hội đồng Lập hiến với nhiệm vụ dự thảo hiến pháp mới. Nhưng sau đó, Toà án Hiến pháp tối cao đã ban hành sắc lệnh giải tán Hội đồng Lập hiến. Tháng 5/ 2012 các đảng phái đồng ý xây dựng tiêu chuẩn để thành lập Hội đống Lập hiến lần thứ hai. Phe thế tục kiên quyết bảo vệ quan điểm xây dựng tỷ lệ tương xứng 1 thế tục - 1 Hồi giáo trong Hội đồng Lập hiến lần này. Sau đó, cả hai viện quốc hội đã chỉ định 100 thành viên vào Hội đồng Lập hiến mới và Hội đồng này có chức năng soạn dự thảo hiến pháp mới trong vòng 6 tháng. Phe quân đội thế tục tiếp tục tấn công phe Hồi giáo của Tổng thống Morsi bằng cách: vào đầu tháng 6 năm 2012 SCAF đã ra lệnh giải tán Hạ viện và tuyên bố cuộc bầu cử có các ứng viên độc lập là bất hợp pháp; sau đó họ ban hành Sắc lệnh Hiến pháp, nắm quyền lập pháp và trao quyền tự chủ cho chính mình.
Để thể hiện quyền lực tổng thống của mình, chỉ khoảng 2 tháng sau đó, tức là vào tháng 8/2012 Tổng thống Morsi và chính quyền của ông đã tước bỏ quyền lực của quân đội khi cho nghỉ hưu hầu hết các sỹ quan cao cấp trong SCAF, sa thải một số sỹ quan an ninh cao cấp nhân sự kiện một số nhóm chiến binh Ai Cập bị giết hại tại biên giới với dải Gaza. Đi xa hơn nữa, phe Hồi giáo của tổng thống đã đối mặt với cuộc khủng hoảng Hiến pháp và bản thân ông Morsi đã giải quyết được khó khăn này. Khi phe thế tục gây áp lực đòi tăng hơn nữa đại diện của mình trong Hội đồng Lập hiến không được, họ đã bất ngờ tuyên bố rút khỏi Hội đồng kề cận ngay trước thời điểm Hiến pháp mới phải hoàn thành vào ngày 12 tháng 12 năm 2012. Tổng thống Morsi vào ngày 22/11/2012 đã lập tức ban hành Tuyên bố hiến pháp với một số điểm cơ bản: Thứ nhất, hạn chế việc bổ nhiệm Trưởng Công tố trong nhiệm kỳ 4 năm bằng việc áp dụng Luật Hồi tố, đồng thời cho phép Tổng thống thay thế Trưởng công tố viên khác là người không ủng hộ Mubarak. Thứ hai, huỷ bỏ các phán quyết tuyên bố trắng án đối với các quan chức thời Mubarak, đồng thời sẽ thiết lập phiên toà mới để xét xử. Thứ ba, tuyên bố Hiến pháp kéo dài thời hạn làm việc của Hội đồng Lập hiến thêm 2 tháng buộc lực lượng thế tục phải quay trở lại bàn đàm phán; ban hành lệnh cấm xem xét các quyết định của Toà án Tối cao về tính hợp hiến của các thành viên trong Hội đồng lập hiến. Thứ tư, cấm xem xét, cấm bãi bỏ và cấm sửa đổi mọi phán quyết về Tuyên bố Hiến pháp và các quyết định của Tổng thống cho đến khi Hiến pháp mới được thông qua và quốc hội mới được bầu; Tổng thống được quyền tự hành động khi thấy đất nước bị đe doạ.
Nước cờ đã tung ra rồi thì không thể làm lại. Sự lạm quyền quá mức của Tổng thống Morsi đã đẩy ông này vào thế bất lợi khi phe thế tục nhân cơ hội này đã đoàn kết tất cả các phe phái còn lại để chống lại lực lượng Hồi giáo. Từ thế tấn công, Tổng thống Morsi và phe Hồi giáo trở thành những người bị động, trở thành mục tiêu phê phán và trở thành động lực gây nên một cuộc nổi dậy mới. Hàng nghìn người Ai Cập lại đổ xuống đường đòi lật đổ Tổng thống Morsi và phế truất chế độ của Tổ chức Anh em Hồi giáo.
Trước áp lực của những người biểu tình, cuối cùng ông Morsi đã buộc phải huỷ bỏ Tuyên bố Hiến pháp, song chính quyền của ông này cũng kịp thời thông qua dự thảo hiến pháp tại quốc hội sau khi Hội đồng Lập hiến thông qua nó vào hạn chót là đêm 29 rạng sáng ngày 30/11/2012. Mặc dù Hiến pháp đã được thông qua với 66% phiếu, song trên thực tế số lượng cử tri đi bỏ phiếu chỉ có chưa đến 33% dân số. Điều này cho thấy số người tán thành hiến pháp mới chỉ là thiểu số nhỏ trong toàn bộ cư dân của Ai Cập. Một lần nữa, tính đa nguyên về chính trị tại Ai Cập đã được thể hiện rõ nét qua sự kiện bỏ phiếu thông qua hiến pháp mới nói trên.
Nội dung của Hiến pháp mới lại làm dấy lên sự tranh luận. Phe Hồi giáo cho rằng Hiến pháp mới là hiến pháp của một nhà nước Ai Cập hiện đại, dân chủ, mở rộng các quyền tự do cá nhân, bảo vệ phụ nữ và dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, phe thế tục, tự do lại phản đối những vấn đề liên quan đến Luật Hồi giáo mà trong Hiến pháp mới đã đề cập đến, cụ thể là ở Điều 2 và Điều 219, bởi vì Hiến pháp dựa trên cơ sở cho rằng nguyên tắc Luật Hồi giáo phải là nguồn gốc của các luật khác thì đối với họ là không thể chấp nhận. Hơn nữa, sự lo ngại là ở chỗ ngôn ngữ trong Hiến pháp có thể bị lợi dụng sau đó để một nhóm có thể dùng quyền lực của mình áp đặt mọi thứ theo tính toán riêng của họ.
Thực tế cho thấy Tổ chức Anh em Hồi giáo đã không có kinh nghiệm và nghệ thuật để giữ được quyền lực sau khi đã giành được nó. Các sự kiện xảy ra đã dẫn dắt họ đến với thất bại. Chính trường Ai Cập ngày càng trở nên rối ren, cuộc đấu tranh giữa hai lực lượng Thế tục/Quân đội với Hồi giáo chính trị/Tổ chức Anh em Hồi giáo ngày càng quyết liệt. Các cuộc biểu tình diễn ra rầm rộ theo hai hướng đối lập nhau: một bên biểu tình dưới sự điều hành của Mặt trận Cứu quốc thuộc phe thế tục để phản đối hiến pháp, phản đối chính quyền của Tổ chức Anh em Hồi giáo và Tổng thống Morsi; bên kia Đảng Salafist Nour thúc dục các tín đồ của mình xuống đường biểu tình để bày tỏ sự ủng hộ đối với hiến pháp mới và chính quyền của lực lượng Hồi giáo. Kết quả cuối cùng là ngày 3 tháng 7 năm 2013 Tổng thống Morsi đã bị bắt giam, kết thúc giai đoạn cầm quyền của những người Hồi giáo chính trị. Vụ đàn áp đẫm máu những người biểu tình ngày 14/8/2013 của quân đội đã đặt ra những câu hỏi như: vai trò của lực lượng quân đội trong tương lai sẽ thế nào? Việc ông Morsi bị loại khỏi quyền lực có phải là đảo chính hay không?... Lên nắm quyền trở lại từ ngày 3 tháng 7 năm 2013 giới lãnh đạo quân đội Ai Cập đã buộc phải sử dụng các biện pháp cứng rắn chống lại những người theo phe Hồi giáo chính trị. Tình hình này khiến sự chia rẽ đất nước thành hai hướng chính trị càng thêm sâu sắc. Phép thử về sự cầm quyền của Tổ chức Hồi giáo chính trị tại Ai Cập đã bị thất bại, từ đó cho thấy xu hướng Hồi giáo hoá lúc này chưa thể thắng thế tại Ai Cập nói riêng và tại khu vực Trung Đông nói chung.
3. Nhận xét và kết luận
3.1. Nhận xét:
- Về cuộc cách mạng Ai Cập:
Xét ở khía cạnh kết quả của cuộc nổi dậy khi không chỉ tổng thống bị lật đổ mà nhân dân còn bầu cử thành lập ra một chính quyền và tổng thống mới theo một chế độ chính trị mới thì cũng có thể cho cuộc nổi dậy ở Ai Cập là một cuộc cách mạng. Bản thân Ai Cập cũng gọi đó cách mạng. Tuy nhiên, nếu đi sâu vào tìm hiểu, phân tích thì thấy rằng chưa có cơ sở để kết luận rằng chế độ chính trị mới sau bầu cử ở Ai Cập là tiến bộ hơn chế độ cũ, đặc biệt nếu nhìn từ góc độ kinh tế - xã hội thì cũng chưa thiết lập được phương thức và quan hệ kinh tế mới tiến bộ hơn. Hơn nữa, kinh tế còn bị trì trệ và sụt giảm đi, mức sống của người dân còn thấp hơn trước khi nổi dậy. Anh em Hồi giáo là tổ chức chính trị lớn nhất lúc đó có cố gắng để nắm lấy tất cả các quân bài chính trị nhưng không hiểu rõ động lực của cuộc cách mạng. Thực sự mà nói, cuộc cách mạng Ai Cập ngay từ đầu đã không có một ban lãnh đạo chủ trương làm cách mạng và đưa ra chủ thuyết tư tưởng chính trị để dẫn dắt cuộc cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng. Đây là một số trong những lý do quan trọng dẫn đến việc Tổ chức Anh em Hồi giáo của Ai Cập đã bị mất quyền lực mới chỉ sau khoảng hơn 1 năm ngắn ngủi cầm quyền.
- Về nguyên nhân thành công của phe Hồi giáo chính trị
Nguyên nhân quan trọng tạo nên thành công của phe Hồi giáo chính là do sự không thể thống nhất của phe đối lập. Trong cuộc bầu cử Tổng thống Ai Cập cử tri Ai Cập đã bị chia rẽ thành 3 khối khác nhau. Một khối muốn Tổ chức Anh em Hồi giáo thiết lập sự thống trị tôn giáo, do vậy họ đã bầu cho ông Morsi. Khối thứ hai muốn duy trì trật tự cũ cho Ai Cập nên đã ủng hộ ông Ahmed Shafiq- cựu lãnh đạo của SCAF. Khối thứ ba không ủng hộ cả hai đường lối trên. Như vậy, trào lưu ủng hộ cho Hồi giáo chính trị không thể vượt quá bán số cử tri Ai Cập nhưng họ đã chiến thắng vì họ tận dụng được sự chia rẽ, không thống nhất trong các lực lượng đối lập. Phe Hồi giáo chính trị vào những thời điểm cần thiết đã biết thống nhất lực lượng của mình mặc dù bản thân phe này cũng có sự khác biệt lớn giữa các nhóm. Cụ thể, nhóm Salafist là những người theo trào lưu Hồi giáo chính thống, lý tưởng hoá thế giới thế kỷ VII của Nhà Thiên tri và hoàn toàn không ủng hộ dân chủ. Lúc đầu chính họ là những người phản đối hiến pháp mới vì cho rằng nó không áp đặt Luật Sharia như cần thiết. Nhưng khi phe thế tục chỉ trích hiến pháp này thì họ đã hợp lực đoàn kết với cả phe Hồi giáo để bảo vệ hiến pháp mới.
- Về nguyên nhân thất bại của Tổng thống Morsi và Tổ chức Anh em Hồi giáo
Những lý do dẫn đến thất bại của Tổng thống Morsi và Tổ chức Anh em Hồi giáo tại Ai Cập có nhiều, song ít nhất phải kể đến những nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất, tổ chức này chủ yếu mới chỉ hoạt động trong một phong trào chứ chưa hoạt động thật sự trên chính trường như một chính đảng. Họ thiếu kinh nghiệm cầm quyền, thiếu tầm nhìn cũng như thiếu một nghị trình cụ thể để giải quyết các vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội đang rất nghiêm trọng tại Ai Cập. Hay như bình luận của tờ báo Al Ahram1. “Hồi giáo là một tôn giáo có thể chỉ đường trong một số lĩnh vực đựơc xác định rõ ràng. Nhưng Hồi giáo không phải là một ý thức hệ chính trị để quản lý đất nước và đề xuất các giải pháp thực tế hiện đại cho những vấn đề liên tục thay đổi của xã hội và nhà nước”. Vấn đề đặt ra là tổ chức này phải tìm ra cách thức bước lên một giai đoạn cao hơn giai đoạn chỉ là một phong trào, đó là giai đoạn xây dựng chính quyền, xây dựng chính phủ và xã hội.
Thứ hai, Tổ chức Anh em Hồi giáo đã không có nghệ thuật trong việc hợp tác với các lực lượng chính trị khác trong một xã hội đa nguyên như Ai Cập để xây dựng lực lượng cho chính mình. Tổ chức này đã không dung hoà được xu hướng bất đồng chính kiến hoặc phản đối lại chương trình lãnh đạo đất nước của họ.
Thứ ba, Tổng thống Morsi lên cầm quyền trong một bối cảnh vô cùng phức tạp, khó khăn và quá nhiều áp lực cũng như thách thức. Bản thân trong nội bộ phe Hồi giáo chính trị đã không phải là một khối thống nhất; sự căng thẳng giữa các nhóm phái và giữa các thế hệ của Tổ chức Anh em Hồi giáo là một áp lực lớn đối với ông Morsi. Bên cạnh đó là những thách thức rất lớn từ phía các thế lực chính trị khác nhau trong Ai Cập cũng như trên cả khu vực Trung Đông. Thêm vào nữa là những vấn đề kinh tế xã hội đang ngày càng trầm trọng kể từ khi diễn ra phong trào Mùa xuân Arab. Khoảng ¼ dân số Ai Cập sống trong nghèo đói và cả xã hội trong tình trạng bất an.
Thứ tư, những biện pháp của Tổng thống Morsi nhằm tấn công phe quân đội thế tục song lại tự làm hại bản thân mình. Ông đã quá vội vã trong việc hạ bệ quyền lực của phe quân đội và tập trung quá mức quyền lực vào tay mình. Ông đã ký ban hành một bản hiến pháp Hồi giáo, làm suy yếu hệ thống toà án và gây khó khăn cho giới truyền thông.
Thứ năm, tại một đất nước đã có truyền thống cởi mở và tự do như Ai Cập thì những nỗ lực nhằm áp đặt quan điểm riêng về Hồi giáo và các giá trị Hồi giáo của Tổ chức Anh em Hồi giáo nói chung là không thể được chấp nhận. Xã hội này đã đánh đổ nhà độc tài Mubarak với tư tưởng thế tục để mong tạo dựng một chế độ chính trị mới dân chủ chứ không để xây dựng một chế độ chính trị với một nhà độc tài khác mang màu sắc tôn giáo. Sự thành công của phong trào Mùa xuân Arab trong các cuộc bầu cử quốc hội và bầu chọn tổng thống một cách dân chủ dường như đang lùi vào những trang giấy của quá khứ.
3.2. Kết luận:
Ai Cập là một nước có tầm quan trọng đặc biệt trong khu vực Bắc Phi, Trung Đông, là nước có ảnh hưởng nhất trong thế giới Arab Hồi giáo. Nước này nằm ở ngã ba thế giới nơi nối liền ba châu lục Á, Âu, Phi; nơi có kênh đào Suez nối Ấn Độ Dương với Địa Trung Hải giúp thực hiện phần lớn thông thương của thế giới, đặc biệt là thương mại dầu mỏ. Ai Cập còn có đường biên giới với Israel qua sa mạc Sinai là nơi luôn tiềm tàng các mối đe doạ về an ninh khu vực. Thành công hay thất bại của Ai Cập trong các lĩnh vực luôn là một bài học kinh nghiệm rất quan trọng đối với các nước trong khu vực. Phép thử Hồi giáo chính trị lên nắm quyền tại Ai Cập nếu thành công sẽ củng cố thêm những thành công trước đó tại Tunisia hay Libya và sẽ được tiếp tục nhân rộng trong khu vực. Ngược lại, thất bại của phép thử này cũng cho thấy tính phức tạp và không thể thống nhất giữa các lực lượng chính trị khác nhau trong thế giới Hồi giáo Trung Đông.
Cuộc đấu tranh Hồi giáo chính trị - thế tục tiếp tục là một cuộc đấu tranh dai dẳng. Ai Cập đã từng là niềm hy vọng về dân chủ và đổi mới cho thời kỳ hậu Mùa xuân Arab nhưng rồi lại rơi xuống vực hỗn loạn chính trị. Từ những vấn đề của Ain Cập bài học cho tất cả các nước trong khu vực này là:
- Một sự tiến triển thực sự cho đất nước lúc này không phải là vấn đề về các cuộc bầu cử tự do, không phải là quyền lực được tập trung lại; vấn đề là cơ chế cân bằng của các tổ chức nhà nước có khả năng hoạt động mà trong đó có sự tham gia của các tổ chức chính trị và cơ chế kiểm soát sự cân bằng đó. Cụ thể trong trường hợp Ai Cập, nếu các nhà lãnh đạo (hiện nay và tương lai) của Ai Cập cho phép tồn tại những khoảng trống cho sự cạnh tranh công bằng và tự do trong các cuộc bầu cử; nếu hiến pháp của đất nước đảm bảo được quyền tự do dân chủ, đồng thời cho phép Toà án Tối cao có quyền kiểm soát và phán quyết các hoạt động không tuân thủ các nguyên tắc dân chủ của các đảng thì Ai Cập mới có thể có điều kiện bước ra khỏi cuộc khủng hoảng chính trị, tạo cơ sở để khắc phục và giải quyết các cuộc khủng hoảng khác trong lĩnh vực kinh tế và xã hội.
- Để đất nước rơi vào nội chiến như Syria sẽ là một thảm hoạ lớn không chỉ đối với riêng Ai Cập mà với cả khu vực Bắc Phi - Trung Đông bởi đặc thù địa-chính trị, địa-chiến lược của Ai Cập như đã nói ở trên, do vậy mối đe doạ về một cuộc xung đột phe phái tại Ai Cập kéo dài sẽ là mối đe doạ đối với an ninh của cả khu vực này. Dù là lực lượng chính trị nào lên cầm quyền đề cần phải ý thức được vấn đề nghiêm trọng này.
- Bất kỳ lực lượng và phe phái chính trị nào nếu chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của Mỹ và các nước lớn khác để giành quyền lực trong nước mình thì sẽ sớm thất vọng bởi thực tế cho thấy phe nào chiến thắng phe ấy sẽ được họ ủng hộ. Tính thực dụng và lợi ích của các nước lớn luôn quan trọng hơn nhiều so với bất kỳ một phe phái hay lực lượng chính trị hay cá nhân chính trị nào của bản xứ. Vì lợi ích của dân tộc và đất nước, các lực lượng chính trị ở mỗi quốc gia trong cuộc đấu tranh giành quyền lực không nên để cho các thế lực bên ngoài tìm cớ can thiệp vào. Để đất nước và dân tộc mình rơi xuống vực thẳm chiến tranh, nội chiến thì tất cả đều thất bại.
Chú thích:
[1] TLTKĐB ngày27/8/2013, tr.12
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, số 1 năm 2014

Thứ Năm, 16 tháng 5, 2013

HỒI GIÁO CỦA NGƯỜI CHĂM Ở VIỆT NAM – NHỮNG YẾU TỐ BẢN ĐỊA


HỒI GIÁO CỦA NGƯỜI CHĂM Ở VIỆT NAM – NHỮNG YẾU TỐ BẢN ĐỊA

NGUYỄN THỊ THANH VÂN

Tóm tắt
Người Chăm là dân tộc duy nhất ở Việt Nam theo Hồi giáo. Hồi giáo thế giới có những luật lệ khắt khe nhưng khi du nhập vào cộng đồng người Chăm nó đã bị biến đổi rất nhiều và mang đậm tính nhân văn tộc người bởi sức sống mãnh liệt của truyền thống văn hóa bản địa. Đó chính là đặc trưng văn hóa Chăm – Nền văn hóa gắn liền và bị chi phối một cách mạnh mẽ bởi sự đan xen và dung hòa của tín ngưỡng và tôn giáo.


  
1.1. Người Chăm ở Việt Nam
Người Chăm hiện nay cư trú khá tập trung trong các palei (hoặc puk) thuộc các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, An Giang và Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, họ còn sinh sống ở một số tỉnh Tây Nguyên nhưng không nhiều. Dân số Chăm hiện nay có 145.235 người*.
Về nguồn gốc, người Chăm được xếp vào nhóm Malayo-Polynesian (Nam Đảo). Có giả thuyết cho rằng các dân tộc này là con cháu của cư dân đến từ thế giới đảo. Có ý kiến cho rằng đó là cư dân đến từ phía Nam Trung Quốc (1). Những phát hiện về khảo cổ học những năm gần đây đưa ra một giả thiết rằng chủ nhân của nền văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung có thể là tổ tiên của người Chăm và các dân tộc Malayo-Polynesian khác ở Việt Nam hiện nay (2).
Do đặc điểm cư trú và bản sắc văn hóa mang tính địa phương, người Chăm ở Việt Nam được chia thành ba nhóm cộng đồng: Chăm Hroi (Chăm theo tín ngưỡng cổ truyền), Chăm Panduranga (ảnh hưởng của Ấn Độ giáo và Hồi giáo đã bị bản địa hóa), Chăm Nam Bộ (ảnh hưởng Hồi giáo chính thống). Sự phân hoá người Chăm thành 3 nhóm đã chứng tỏ ở cộng đồng này vấn đề dân tộc gắn bó chặt chẽ với vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng. Đồng thời, bản sắc dân tộc cũng được biểu hiện thông qua từng cộng đồng tôn giáo với những mức độ khác nhau.
Hồi giáo (tiếng Ả Rập: الإسلام al-'islām), là một tôn giáo độc thần. Đây là tôn giáo lớn thứ hai trên thế giới, sau Kitô giáo, và là tôn giáo đang phát triển nhanh nhất về số lượng tín đồ.Được ra đời vào khoảng thế kỷ thứ 7 tại bán đảo Ả Rập, do Muhammad sáng lập, đạo Hồi chỉ tôn thờ Allah Đấng tối cao, Đấng duy nhất (tiếng Ả Rập: الل Allāh). Muhammad là vị Thiên sứ cuối cùng được Allah mặc khải Thiên Kinh Qu'ran (còn viết là Koran) qua Thiên sứ Gabriel. Hồi giáo trong tiếng Ả Rập là Islam nghĩa là "vâng mệnh, quy phục Thiên Chúa". Hồi giáo truyền sang Trung Quốc, được người Hồi Hồi (có nơi gọi là Hồi Hột) tiếp nhận. Người Trung Quốc thấy người Hồi Hồi theo tôn giáo lạ nên mới gọi là "Hồi giáo".
Đối với người Chăm, đặc biệt là người Chăm Nam Bộ ở Việt Nam thì vai trò của Hồi giáo rất lớn trong đời sống văn hoá và tâm linh. Trong lịch sử, vương quốc Chămpa tôn sùng Hindu giáo và đặc biệt là một nhánh của Hindu giáo (Shivaism). Điều này thể hiện trên hàng trăm đền tháp Hindu giáo và hàng trăm pho tượng và ngẫu tượng Siva, thần chủ Srisana Bhadresvana (Siva hai lần linh thiêng) còn được lưu giữ đến hiện nay hay được ghi chép trong bi ký.
Vậy Hồi giáo thâm nhập Chămpa vào lúc nào?
P. Ravaisse (1922) công bố hai bản chữ Arab do một viên sĩ quan hải quân Pháp phát hiện ở “gần bờ biển miền Trung Việt Nam”. Bản dập thứ nhất chỉ dẫn ngôi mộ của một người tên là Abu Kamil có niên đại 21-11-1039. Bản thứ hai “nét chữ thô xấu và sứt sát hơn” cho biết về một thông báo cho cộng đồng người Arab, Ba Tư cần phải cư xử như thế nào đối với dân bản địa trong giao tiếp và giao dịch. Bản dập thứ hai không có niên đại song cả hai cùng thời, có nét chữ “thuần khiết Arap Phatimit”. Điều đó dẫn tới đoán định của P. Ravaisse về sự hiện diện của cộng đồng thương nhân Hồi giáo vào thế kỷ XI ở vương quốc Chămpa. Sự hiện diện của cộng đồng này chưa có căn cứ chắc chắn để khẳng định, mà hơn thế nữa nó cũng không ảnh hưởng hay có vai trò gì trong vương quốc cũng như triều đình Chămpa.
Đầu thế kỷ XIV, một nhà du lịch Hồi giáo người xứ Tanger (Ma Rốc) có tên là Ibn Batutah đi sang Trung Quốc có ghé qua một số nơi trên Biển Đông, qua xứ Tawalisi, được đoán định là Chămpa. Theo ông, ở đó Công chúa nói được tiếng Thổ và viết thạo chữ Arab. Một số nhà nghiên cứu cho rằng đây là bằng chứng sự hiện diện của Hồi giáo nhưng chưa có gì là chắc chắn cả. Trước khi đó, thế kỷ XIII, Marco Polo đã đến Chămpa và sau đó một chút, vào thế kỷ XIV, Odiric de Pordenone đều cũng có nhận xét khi dừng chân ở nước này, yết kiến nhà vua. Ở đây, vua và cả nhân dân đều sùng kính ngẫu tượng - muốn nhấn mạnh phong tục tôn thờ Hindu giáo.
Tống sử cũng nói tới một cộng đồng thương nhân Hồi giáo sống ở Nam Trung Hoa từ thế kỷ XIII. Thư tịch Trung Hoa thường dùng từ Bồ (trong bồ liễu), Bố (trong bố cáo) dùng để chỉ người Arab Hồi giáo. Thực ra đây là cách gọi tắt của Abu-I-Hassan, tên sứ giả đầu tiên của người Arap tới Trung Hoa. Thư tịch Trung Hoa cũng cho biết có nhiều phái bộ sứ giả Chiêm Thành đến đất nước họ, trong đó có sứ giả họ Bồ. Chămpa nằm trên đường mậu dịch hàng hải Đông - Tây, cũng có một cộng đồng Arap Hồi giáo sinh sống trong khoảng trước- sau thế kỷ X, đóng vai trò tiếp xúc thương mại và ngoại giao (phiên dịch). Có thể đoán định đạo Hồi được truyền bá vào Java vào cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, đều xuất phát từ Chămpa và gắn liền với một số nhân vật hoàng tộc Chămpa. Nhưng thời gian này, ở Chămpa phần lớn triều đình và thường dân vẫn theo Hindu giáo.
Quá trình người Việt tiến xuống phía Nam (đặc biệt dưới thời chúa Nguyễn - Đàng Trong), xã hội Chăm ngày càng bị đẩy sâu về phía Nam. Một bộ phận người Chăm di cư vào An Giang, một bộ phận khác đến Compong Cham trên trung lưu sông Mê Công thuộc Campuchia ngày nay (Khoảng 70.000 người được gọi là Khơmer Islam). Bộ phận này chủ yếu là người Chăm theo đạo Hồi, hoặc có quan hệ buôn bán với vùng đất phía nam từ trước, còn nhân dân và hoàng tộc cơ bản vẫn ở lại quê hương.
Đạo Hồi là một tôn giáo xuất hiện khá sớm ở Việt Nam nhưng không phổ biến mà chỉ trong một phạm vi nhỏ, chủ yếu của người Chăm ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Sự quá ngặt nghèo của nghi lễ Hồi giáo, sức sống trường tồn của văn hóa bản địa, sự ảnh hưởng sâu rộng của đạo Phật, đạo Hindu từ Ấn Độ và Trung Quốc, đạo Thiên chúa giáo với sự bảo trợ của các thuyền buôn và thực dân phương Tây… là những nguyên nhân cản bước đạo Hồi thâm nhập vào Việt Nam, thậm chí những khu vực đạo Hồi đã thâm nhập cũng biến đổi khá nhiều để phù hợp với văn hóa truyền thống của cư dân bản địa (đặc biệt là người Chăm Bàni ở Ninh Thuận và Bình Thuận).
1.3. Đặc điểm Hồi giáo của người Chăm  ở Việt Nam
Nguời Chăm theo đạo Hồi ở Việt Nam chia thành hai nhánh: Chăm Bàni (một bộ phận Chăm Islam) ở miền Trung và Chăm Islam ở Nam Bộ.
Người Chăm theo Hồi giáo ở Ninh Thuận và Bình Thuận là những người “Hồi sớm”, tức là đến sớm mà không sâu, căn bản vẫn là Chăm, lưu giữ và pha trộn nhiều tập tục Hindu trong tín ngưỡng và cấm kị Hồi giáo. Họ không theo đầy đủ, không đúng quy tắc và không liên hệ gì với thế giới Hồi giáo cũng như với những đồng đạo của mình ở miền Nam. Họ không biết giáo lý Hồi giáo, không biết chữ Arab, không thông hiểu kinh Coran (chỉ một vài người đứng đầu có thể đọc được kinh Coran bằng tiếng Arab nhưng không phải tiếng Arab hiện đại).
Cộng đồng người Chăm ở miền Trung hình thành hai thực thể khác nhau, sống bên cạnh nhau. Người Chăm theo tôn giáo truyền thống (Hindu giáo) tự gọi mình là Chăm Bàlamôn hay chăm Jat (tiếng Phạn Jati = gốc, nguồn gốc), còn người Chăm theo Hồi giáo tự gọi mình là Chăm Bàni (tiếng Arab thì Beni = con, tức là con cháu của thánh Allah) và gọi người Chăm Jat là Chăm Kaphir “vô đạo”… Mỗi nhóm theo những phong tục, tập quán, quy tắc khác nhau… Tuy nhiên, họ không có thái độ kỳ thị nhau, cùng tổ chức và tham dự lễ hội cổ truyền: lễ Kate, Chabun và các nghi lễ truyền thống khác.
Còn lại người Chăm ở Nam Bộ là những tín đồ Hồi giáo nhiệt thành. Mỗi làng hay mỗi cụm làng là một giáo khu, có một thánh thất, nhiều khi chỉ là một căn nhà lớn hơn nhà bình thường một chút. Cả vùng có một thánh đường và một lớp học xây gạch. Mỗi khu có một trưởng giáo khu, một số phó giáo khu (kalik) và một số giảng sư (hadii), chừng 10 người, còn gọi là Guru (vốn là cách gọi pháp sư Hindu giáo đã được chuyển nghĩa, mà âm địa phương gọi là Ong Khù). Những vị này được đào tạo cẩn thận, học tại Kelantan (Malaysia) hay Mecca (Arap Seut), trở thành những người Monomat Koruan, thông thuộc và giải thích được kinh Coran. Ngoài ra, có một số vị tư tế (Imân) và một số vị phó tư tế (Ketip/Katip) là những người trông coi tín đồ trong phạm vi hẹp hơn, cũng có thể theo dõi và hướng dẫn nghi lễ Hồi giáo.
Người Chăm Hồi giáo Nam Bộ còn giữ được nhiều nghi lễ và quy tắc của đạo Hồi chính thống hơn so với đồng đạo của họ ở miền Trung, đặc biệt là những kiêng kị và tâm nguyện hành hương đến thánh địa Mecca. Hiện nay họ có khuynh hướng giao lưu với các tín đồ Hồi giáo chính thống ở các quốc gia Đông Nam Á như Indonexia, Malaixia… và có quan hệ khá gắn bó với cộng đồng Islam trên thế giới.
Đạo Hồi được đánh giá là một tôn giáo khắc nghiệt, với hàng loạt các điều kiêng kỵ và quy tắc đối với các tín đồ, đòi hỏi họ phải thực hiện triệt để. Tuy nhiên, đạo Hồi du nhập và tồn tại trong cộng đồng người Chăm đã bị cải biến và đơn giản hoá rất nhiều để dung hoà với văn hoá của cư dân sở tại. Do vậy, đạo Hồi của người Chăm ở Việt Nam mang nhiều yếu tố bản địa. Nó thể hiện ở các điểm sau:
Giáo lý và các quy định của đạo Hồi rất nghiêm ngặt cho toàn thể tín đồ Hồi giáo trên thế giới. Đối với một tín đồ Hồi giáo thì “năm hành vi tôn giáo” có tính bắt buộc để mỗi tín đồ chứng minh mình là người Hồi giáo - người có niềm tin duy nhất vào thánh Alla. Năm hành vi tôn giáo bắt buộc đó là: Lễ nguyện Salat (Mỗi tín đồ cầu nguyện 5 lần một ngày); Tháng chay Ramanda; Zakah (Bố thí); Haji (Hành hương về thánh địa Mecca); Jihad (Thánh chiến để bảo vệ Hồi giáo)
Người Chăm Hồi giáo ở Việt Nam, kể cả những tín đồ Chăm Hồi giáo nhiệt thành ở Nam Bộ, do ảnh hưởng truyền thống chuộng hoà bình của dân tộc và các chính sách phù hợp đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước nên việc thực hiện năm hành vi tôn giáo đã được cải biến:
-Tin tưởng Thượng đế Allah là tối cao duy nhất, và Muhammad là sứ giả cuối cùng của Allah, là người khai sáng Islam.
- Mỗi ngày đêm phải cầu nguyện đủ 5 lần.
- Phải ăn chay trọn tháng Ramadan.
- Phải bố thí để giúp đỡ người khó khăn hơn mình.
- Nếu có khả năng thì ít nhất một lần trong đời hành hương về thánh địa Mecca (Saudi Arabia) để làm lễ Haji (4).
 Người Chăm Hồi giáo ở Việt Nam đặc biệt là những người Chăm Hồi giáo ở Nam Bộ tuân thủ khá chặt chẽ những giáo lý, giáo luật của Hồi giáo chính thống. Họ đã thay đức tin “Thánh chiến để bảo vệ Hồi giáo” bằng đức tin “Tin tưởng Thượng đế Allah là tối cao duy nhất, và Muhammad là sứ giả cuối cùng của Allah, là người khai sáng Islam”.
Khác với người Chăm Islam ở Nam Bộ, người Chăm Bàni ở Ninh Thuận và Bình Thuận tin vào Allah như một đấng tối cao nhưng không phải là duy nhất. Họ vẫn tôn thờ các vị thần trong tín ngưỡng truyền thống như Thần Mưa, Thần Núi, Thần biển... Họ vẫn thực hiện các nghi lễ nông nghiệp theo tín ngưỡng dân gian như lễ cầu xin thần Mẹ Xứ Sở (Rija Nưgar), lễ cầu mưa (Yor Yang), lễ cầu thần Sóng Biển (Plao Pasah), lễ chặn dầu nguồn (Kap Hlâu Krong)... Người Chăm Bàni cầu nguyện 3 lần/ ngày; không nhịn ăn ban ngày vào tháng Ramưwan mà chỉ có giáo sĩ nhịn ăn ba ngày đầu tháng mà thôi. Họ cũng không hành hương tới thánh địa La Mecque.Tính bản địa trong Hồi giáo của người Chăm ở nước ta được xuất phát và gìn giữ bởi nền tảng văn hoá truyền thống Chămpa cổ.
Giáo lý Hồi giáo giành quyền ưu thế tuyệt đối cho đàn ông trong quan hệ hôn nhân. Kinh Koran xác nhận uy quyền của đàn ông đối với đàn bà: "Đàn ông có quyền đối với đàn bà vì Chúa sinh ra đàn ông cao quí hơn đàn bà…. Đối với những phụ nữ không biết vâng lời, đàn ông có quyền ruồng bỏ, không cho nằm chung giường và có quyền đánh đập" (Koran 4:34). Đàn ông có quyền lấy nhiều vợ nhưng đàn bà chỉ được lấy một chồng. Người đàn bà ngoại tình sẽ bị đem ra nơi công cộng để mọi người ném đá đến chết. Một quy định khác của Hồi giáo thường được các tín đồ hết sức coi trọng và tuân thủ nghiêm ngặt là hôn nhân đồng đạo. Không có hôn nhân ngoài Hồi giáo. Nếu có xảy ra cuộc hôn nhân này thì người ngoại đạo phải cải theo đạo Hồi trước khi cử hành hôn lễ.
Tuy nhiên, trong xã hội Chăm truyền thống cũng như hiện tại ở nước ta vấn đề hôn nhân và gia đình của người Chăm Hồi giáo (đặc biệt là Chăm Bàni ở miền Trung Việt Nam) có rất nhiều cải biến để phù hợp với truyền thống dân tộc và luật pháp Việt Nam, thập chí có những tác động để cải biến các giáo lý Hồi giáo khắt khe.
Người Chăm ở Việt Nam theo mẫu hệ, con cái tính theo dòng mẹ, người phụ nữ trong nhà nắm giữ nhiều của cải, quyết định mọi hình thức cưới hỏi. Đạo Hồi đã đem phụ hệ, phụ quyền vào đời sống Chăm nhưng đã dung hoà với phong tục truyền thống Chăm:
+ Trong hôn nhân có sự bình quyền tương đối giữa nhà trai và nhà gái, cho tự do tìm hiểu giữa nam nữ trước hôn nhân.
+ Cho phép kết hôn con chú, con gì.
+ Cho phép con mang cả họ mẹ và họ cha.
Chú rể – chồng bắt buộc phải ở lại nhà vợ 2 - 3 tháng (ở nông thôn) hay 3 - 4 ngày ở thành thị sau ngày cưới. Người Chăm theo mẫu hệ, họ chỉ có tục đưa rể chứ không đón dâu. Chú rể được đưa sang nhà cô dâu và mọi thủ tục, nghi lễ được thực hiện bên nhà gái.
+ Con trai có thể đi hỏi vợ nhưng phải mang theo 2, 3 bà chị hoặc bạn của mẹ.
+ Khi ly hôn, theo luật pháp người đàn ông được chia tài sản nhưng phần lớn họ ra đi tay không.
+ Người đàn ông có quyền lấy 4 vợ nhưng rất hiếm trường hợp người đàn ông Chăm lấy hơn một vợ (6) (Luật pháp Việt Nam không cho phép).
+ Người Chăm có thể tục huyền khi vợ hoặc chồng chết, tuy nhiên người đàn bà phải ở vậy trong 10 tháng để xác định dòng máu của đứa con sau này (có nơi người ta chỉ bắt buộc người phụ nữ ở vậy trong 3 tháng để xác định có thai hay không). Mặc dù có sự ngự trị của chế độ phụ hệ nhưng gia đình mẹ vợ (nếu như có điều kiện kinh ế) giúp đỡ người con gái xây dựng nhà cửa bên cạnh nhà mình, nhất là với người con gái út (huyết thống theo dòng mẹ và theo đằng con gái út).
Đối với người Chăm Bàni, trước đây họ cũng tuân thủ nguyên tắc hôn nhân đồng tôn giáo. Những năm gần đây, người Chăm Bàni ở Bình Thuận đã có những cuộc hôn nhân không cùng tôn giáo, được cộng đồng và các chức sắc chấp nhận. Tuy nhiên, trong những cuộc hôn nhân như thế, người ngoại đạo không phải cải thành đạo Hồi nhưng phải đáp ứng 3 điều kiện: phải biết tiếng và chữ Chăm cổ truyền; phải chịu lễ Katat (nếu là đàn ông) hoặc lễ Karơh (nếu là phụ nữ) và phải tuân thủ đầy đủ các nghi lễ Hồi giáo Bàni; khi chết không được chôn chung vào nghĩa địa của dòng họ mà phải chôn riêng.
Giáo lý Hồi giáo có những quy định khắt khe đối với phụ nữ trong hôn nhân và vai trò của họ trong gia đình và xã hội. Tuy nhiên, giáo lý Hồi giáo trong cộng đồng người Chăm ở Việt Nam đối với người phụ nữ khá dung hoà trong quan hệ giới và quan hệ xã hội.
Tùy theo luật pháp và phong tục tập quán của mỗi dân tộc, cũng như do sự biến chuyển của lịch sử, số phận của phụ nữ Hồi Giáo cũng thay đổi nhưng đạo Hồi vẫn quyết định phần lớn số phận của họ. Họ phải che kín toàn thân khi ra đường, chỉ được hưởng ½ tài sản so với đàn ông, giá trị phụ nữ trước pháp luật chỉ bằng ½ so với đàn ông, không được ngoại tình …. Tuy nhiên phụ nữ Chăm theo Hồi giáo ở Việt Nam không bị những quy định quá ngặt nghèo chi phối như phụ nữ ở các quốc gia Hồi giáo khác, kể cả là những người Chăm ở Nam Bộ được coi là những người Chăm Hồi giáo chính thống.
Trong gia đình, người phụ nữ lớn tuổi vẫn rất được coi trọng. Nó thể hiện truyền thống mẫu hệ còn ảnh hưởng khá mạnh đến đời sống tộc người. Ở đây, người phụ nữ không chỉ giữ vai trò chủ đạo trong quản lý kinh tế và điều phối các hoạt động trong gia đình mà còn có vai trò trụ cột trong đời sống tâm linh và tinh thần nói chung. Người phụ nữ Chăm Hồi giáo ở thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là người nội trợ mà còn là người buôn bán rất giỏi, là công nhân, ca sĩ, giáo viên, giảng kinh Qur,an ở thánh đường và nhà riêng. Họ không phải cấm cung, được học hành và giao tiếp rộng rãi, không phải mang mạng che mặt, mặc áo dài tay hay có người lớn đi kèm khi ra đường... như phụ nữ ở các quốc gia Hồi giáo khác (7). Các quy định của giáo lý Hồi giáo trong người Chăm ở Việt Nam đã bị bản địa hoá nhiều, có hướng mở cho phụ nữ Chăm trong quan hệ gia đình và xã hội.
Đại diện nổi bật của kiến trúc Hồi giáo trước hết là các thánh đường. Điều mà mọi người để ý đến đầu tiên ở một thánh đường Hồi giáo là các ngọn tháp cao với mái vòm bên cạnh thánh đường, thường gắn một ngôi sao và vành trăng lưỡi liềm vốn là biểu tượng của đạo Hồi, vào trong là một cái sân cầu nguyện rộng rãi. Ở đó thường có một bể nước để dùng vào việc thanh tẩy trước khi cầu nguyện, và đó cũng là nơi hội họp ưa thích của cộng đồng. Nội thất thánh đường đơn giản. Với kiến trúc như vậy, thánh đường Hồi giáo thể hiện rất rõ hai định hướng của đạo Hồi, hướng đến Thượng đế và hướng đến cộng đồng tín đồ, được biểu tượng bằng Mecca là trung tâm trên trần thế. Tất cả mọi kiến trúc thánh đường đều hướng về thánh địa Mecca.
Trong khu vực sinh sống của người Chăm Bàni ở miền Trung, mỗi làng cũng có một thánh đường (tiếng Chăm là Thang Mưgik – nhà làm lễ cầu nguyện, Thang Pô - nhà thánh hay thánh đường, Thang Dhat – nhà phước), Tuy nhiên, kiến trúc thánh đường Bàni khác với Islam. Thánh đường Bani gọi là Chùa, có kiến trúc gần với nhà tục (thang Yơ) truyền thống nhưng mở ở đầu hồi hướng đông (hướng thần thánh trong tín ngưỡng của Hindu giáo) và không xuất hiện tháp đỉnh vòm trên nóc thánh đường. Thánh đường của người Chăm không chỉ nơi cầu nguyện mà còn là nơi hội họp các việc làng, là nơi tấn phong của các tu sĩ…
Một số nghi lễ tôn giáo Hồi giáo của người Chăm ở Việt Nam đã bị bản địa hoá, giản lược và mang nhiều yếu tố tín ngưỡng cổ truyền:
2.5.1. Nghi lễ thành niên
Hồi giáo quy định nghi lễ thành niên đối với mọi thành viên trong xã hội. Nghi lễ này nhằm chứng nhận một người đã đến tuổi trưởng thành hay có quyền kết hôn. Đối với nam giới phải thực hiện nghi lễ làm cuộc tiểu phẩu ở bộ phận sinh dục là cắt bao quy đầu bằng dao sắc (lễ Khotan), đối với nữ giới cũng phải chịu lễ rạch màng trinh bằng dao sắc có sát trùng (lễ Karơh). Tuy nhiên, khi đạo Hồi truyền bá vào người Chăm ở Việt Nam nó đã bị giản lược đi nhiều, chỉ còn mang tính tượng trưng kể cả với cộng đồng người Chăm Hồi giáo ở Nam Bộ gần gũi với Islam chính thống.
Người Chăm theo Hồi giáo ở Việt Nam quy định con trai, con gái đến 15 tuổi là coi như bước vào tuổi trưởng thành. Họ phải thực hiện nghi lễ thành đinh. Khi thực hiện nghi lễ Khotan cho nam giới (Nghi lễ này đã được dịch là Katat đối với người Chăm Bani ở Bình Thuận), nhiều chàng trai thực hiện một lần. Họ phải dựng một chiếc lều đơn giản ở khu vực khuất nẻo trong làng, trải chiếu trên đó bày một bộ đồ pha trà, một ít trà khô và thuốc lá, một tô to đầy nước và trứng vịt để thày Achar làm lễ. Đến giờ hành lễ, các chàng trai phải tập trung trước cửa lều, thầy Achar gọi lần lượt từng người vào làm lễ. Ông cầu kinh, một tay cầm bao quy đầu của chàng trai, một tay cầm thanh tre cật đã được chuốt mỏng hoặc một con dao đưa qua đưa lại ở đầu dương vật của người chịu lễ. Sau đó, thày Achar lấy một quả trứng vịt xoa vào chỗ vừa giả vờ cắt. Đây chỉ là nghi lễ tượng trưng, mô phỏng động tác thực sự cắt bao quy đầu của người chịu lễ Khotan truyền thống Hồi giáo. Qua nghi lễ này, có thể thấy quá trình đạo Hồi chính thống bị pha loãng trong xã hội truyền thống của người Chăm để trở thành Hồi giáo Bani, nghi lễ Khotan hà khắc của Hồi giáo chính thống (cắt da bao quy đầu thật sự) đã thích nghi với xã hội Chăm và trở thành một nghi thức mang tính tượng trưng (8).
Nữ giới cũng phải tham gia nghi lễ thành niên gọi là Karơh. Nghi thức này đối với nữ giới cũng mang tính tượng trưng so với các quốc gia Hồi giáo chính thống. Lễ này cũng được làm tập thể cho các cô gái trong vùng. Họ phải làm hai cái rạp: Cái lớn thờ thánh Allah, cái nhỏ để các cô gái chịu lễ thay quần áo và ở đó trong suốt thời kỳ làm lễ. Các thiếu nữ không được ra ngoài với bất kỳ lý do gì. Người làm lễ này gồm có thầy chính gọi là Po Grù, hai thầy phụ gọi là Imưn. Sau một đêm trôi qua, các cô gái mặc quần áo chỉnh tề mới bước ra rạp nhỏ. Họ sang rạp lớn chờ các thầy ban phép. Chỗ các thầy làm lễ ban phép có một cái bát lớn đựng nước phép và một cành lá thơm, một cái kéo. Đến giờ làm lễ, các thầy đọc kinh, rồi ra hiệu cho từng người một vào quỳ đối diện với thầy chính (Pô-Grù). Thầy để vào lưỡi người thiếu nữ vài hạt muối, rồi lấy kéo cắt một ít tóc trên đỉnh đầu và cho uống một ngụm nước phép. Sau đó người nhà dâng lễ ăn sáng cho các thầy. Khi vào dâng lễ, người nhà và họ hàng phải mặc toàn đồ trắng tượng trưng cho sự trinh bạch đến chào người thiếu nữ vừa chịu lễ xong.
2.5.2. Tục thờ cúng tổ tiên
Người theo Hồi giáo chỉ có một niềm tin duy nhất là: “Tin tưởng Thượng đế Allah là tối cao duy nhất, và Muhammad là sứ giả cuối cùng của Allah, là người khai sáng Islam”. Tuy nhiên, người Chăm ở Việt Nam (đặc biệt là người Chăm Bàni ở miền Trung Việt Nam) vẫn còn lữu giữ và coi trọng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Họ quan niệm những người trong gia đình, khi mất đi vẫn có ảnh hưởng rất nhiều tới những người còn sống. Trách nhiệm này người Chăm giao cho người đàn ông đã thành niên (đã trải qua lễ Katat). Cùng với những người anh em trai của mình và những người đàn ông là anh em ruột của mẹ mình, họ chịu trách nhiệm chăm lo đời sống tâm linh và xử lý mọi công việc của gia đình cha mẹ và gia đình những người chị gái ruột đã tách hộ ở riêng nhưng vẫn giữ việc thờ cúng tổ tiên chung tại gia đình mẹ. Người đàn ông thành niên chịu trách nhiệm trình báo, xin phép tổ tiên của gia đình mẹ mình khi có những việc lớn trong nhà như làm nhà, dựng vợ gả chồng, ma chay hay trong các dịp lễ tết cổ truyền. Cho dù sau này lập gia đình, sang ở nhà vợ thì người đàn ông Chăm Hồi giáo Bani vẫn phải có trách nhiệm với việc cúng tế tại gia đình mẹ và gia đình các chị em gái mình mỗi khi có việc cần.
Lễ Tảo mộ là một trong 5 nghi thức của chuỗi lễ hội Ramưwan, nó giống như tiết thanh minh của người Việt.
Lễ hội tảo mộ diễn ra trước tháng ăn chay Ramưwan 3 ngày, bắt đầu từ ngày mùng Một tháng Chín của lịch Hồi giáo. Tảo mộ là nghi thức cúng viếng ông bà, tổ tiên. Trước đó từ ngày 25 tháng 8 lịch Islam, các làng Chăm Bani bắt đầu đi rãy mả (tảo mộ), rước vong linh ông bà tổ tiên về nhà, lập bàn thờ tạm, tổ chức lễ cúng ông bà trước khi đưa lên Chùa (Thánh đường Hồi giáo). Tháng Ramưwan kết thúc bằng lễ ra chùa, còn gọi là lễ xả chay. Từ nghi lễ tưởng nhớ trong đạo Hồi, đến với cộng đồng người Chăm, nó trở thành nghi lễ tưởng nhớ và thờ cúng tổ tiên mạng đậm văn hoá truyền thống bản địa Đông Nam Á.
Dưới mức độ ảnh hưởng đậm hay nhạt của văn hoá Hồi giáo ở hai cộng đồng người Chăm Bàni ở miền Trung hay Chăm Islam ở Nam Bộ, văn hoá bản địa và Bàlamôn giáo của người Chăm vẫn được lưu truyền trong nhiều trạng thái của nghi lễ Hồi giáo. Nó thể hiện sức sống dẻo dai và mãnh liệt của văn hoá truyền thống của người Chăm, tạo dựng nền văn hoá Việt Nam hiện đại thống nhất trong đa dạng, mang đậm bản sắc văn hóa tộc người.
Kết luận
Trong quá trình lịch sử, sự hoà trộn các yếu tố văn hoá nội sinh và ngoại sinh đã hình thành một nền văn hoá Chămpa phong phú về nội dung và đa dạng về diện mạo. Tại mỗi vùng cư trú của người Chăm, quá trình giao lưu, tiếp xúc với yếu tố văn hoá bên ngoài (văn hoá Ấn Độ và Hồi giáo) đã hình thành những sắc thái văn hoá đặc thù mang đậm tính bản địa.
Hồi giáo truyền bá vào Việt Nam đã đem những văn minh và cả những giáo luật khắt khe đến với cộng đồng Chăm nước ta. Tuy nhiên, quá trình tiếp xúc với văn hoá bản địa, Hồi giáo trong cộng đồng người Chăm đã bị phân hoá làm hai bộ phận tách biệt là Chăm Bàni và Chăm Islam với những đặc trưng tôn giáo và văn hoá riêng. Xét về bản chất Hồi giáo của người Chăm, chúng ta thấy rõ sự tác động và vai trò của tín ngưỡng