Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2012

Từ biến động chính trị ở Trung Đông và Bắc Phi


Tìm nguyên nhân cũng chính là rút ra bài học cảnh tỉnh, cảnh giác cho nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới. Với Việt Nam, bài học sâu xa, căn bản, quan trọng nhất luôn là lấy dân làm gốc. Phải "khoan thư sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc” (Trần Hưng Đạo), bởi "chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân” (Nguyễn Trãi).
Nguyễn Thuý Hoàn
Nguyên cớ trực tiếp bắt đầu từ việc cử nhân Mô-ha-mét Bu-a-zi, 26 tuổi ở Tuy-ni-di thất nghiệp, buộc phải đi bán rau quả rong trên vỉa hè Thủ đô. Ngày 17-12-2010, do bị cảnh sát tịch thu gánh hàng rong, quá phẫn uất đã tự thiêu và sau đó chết trong bệnh viện. Lập tức, tia lửa nhanh chóng lan rộng trở thành bão lửa. Nhiều cuộc biểu tình, bạo loạn liên tiếp nổ ra ở các tỉnh, thành phố khác của Tuy-ni-di. Hàng chục người chết, hàng trăm người bị thương trong các cuộc trấn áp. Như lửa đổ thêm dầu, các cuộc biểu tình ngày càng nhiều và đông. Trước sức ép của các lực lượng biểu tình, ngày 14-2-2011, Tổng thống Tuy-ni-di B.A-li cùng gia đình trốn chạy khỏi đất nước kết thúc 23 năm cầm quyền. Biến động chính trị dữ dội ở Tuy-ni-di nhanh chóng lan sang nhiều nước khác ở Bắc Phi, Trung Đông. Ở Ai Cập - nước đông dân nhất thế giới A-rập (hơn 80 triệu), nhiều cuộc biểu tình, bạo động chính trị quy mô lớn đòi Tổng thống H.Mu-ba-rắc từ chức. Ngày 11-2-2011, Phó tổng thống Ai Cập Ô.Su-lây-man phát biểu trên truyền hình tuyên bố Tổng thống Ai Cập H.Mu-ba-rắc "quyết định từ chức” kết thúc 32 năm cầm quyền liên tục. Ở An-giê-ri, từ ngày 6 đến 8 tháng 1-2011, biểu tình, bạo loạn cũng bùng phát ở trên 20 tỉnh, thành phố, trên 80 người đã thiệt mạng, hàng trăm người bị thương. Nhiều cuộc biểu tình, bạo động chính trị xảy ra ở các nước khác như Li-bi, Y-ê-men, Xy-ri, Ba-ranh…

Tìm hiểu, người ta thường nghĩ ngay đến nguyên nhân can thiệp từ bên ngoài, đứng đầu là Mỹ. Nguyên nhân này thể hiện rõ nhất khi các nước phương Tây dưới danh nghĩa thực hiện Nghị quyết 1973 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thiết lập vùng cấm bay ở Li-bi tiến hành không kích đất nước này và đòi Tổng thống Li-bi "từ chức ngay lập tức”. Cách thức can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp của các nước phương Tây vào công việc nội bộ của các quốc gia có chủ quyền nơi đây khiến người ta liên tưởng đến Đề án Trung Đông Lớn (The Greater Middle East) của Mỹ nhằm thay đổi biên giới của 24 quốc gia, từ Châu Phi, Trung Đông tới Trung Á, làm bàn đạp để Mỹ tiến tới thiết lập quyền kiểm soát đối với toàn bộ lục địa Á-Âu. Đề án Trung Đông Lớn đã từng được nhiều đời Tổng thống Mỹ xây dựng cách đây hơn 30 năm nhằm mục đích trước hết và quan trọng nhất là bảo đảm duy trì nguồn cung cấp dầu mỏ liên tục, thường xuyên cho Mỹ từ khu vực này. Theo dự báo, đến năm 2025, khoảng 2/3 nhu cầu dầu mỏ của Mỹ được đáp ứng từ khu vực Trung Đông. Hiện nay, ở khu vực này đã tập trung các căn cứ quân sự chủ yếu của Mỹ, trong đó có 10 sân bay quân sự lớn nhất và một số căn cứ hải quân phục vụ lực lượng hải quân tiến công của Mỹ. Hơn 200 ngàn quân Mỹ thường trực ở Áp-ga-ni-xtan, I-rắc và trên bán đảo A-rập. Hơn nữa, gần đây ở khu vực địa chính trị quan trọng này, vị trí của Mỹ bị lấn lướt bởi Trung Quốc và Nga. Tháng 11-2006, Trung Quốc tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh Trung Quốc-châu Phi, việc mà Mỹ chưa từng làm được. Điều đó ngăn cản Mỹ trong thực hiện chiến lược năng lượng, khả năng kiểm soát khu vực và tham vọng lãnh đạo thế giới. Biến động chính trị ở Bắc Phi và Trung Đông là cơ hội vàng để Mỹ có thể dựng lên các chính quyền thân Mỹ có khả năng phục vụ cho các mục tiêu chiến lược của Mỹ và các nước phương Tây. Chính quyền thân Mỹ, cho dù từng nhiều năm là đồng minh thân cận như chính quyền của nguyên Tổng thống H.Mu-ba-rắc ở Ai Cập nhưng khi không còn tác dụng phục vụ lợi ích của Mỹ cũng lập tức bị Mỹ loại bỏ. Để can thiệp, Mỹ và đồng minh vẫn thực hiện cách thức quen thuộc: Sử dụng các trang mạng xã hội (Facebook, Twitter, YouTube…) kích động cho chuỗi các sự kiện bùng nổ, lan rộng. Tiếp theo các cuộc biểu tình đường phố dần từ  nhỏ đến lớn với những yêu sách chính trị và kinh tế-xã hội, ở một số nơi kết hợp với bạo động để gây áp lực đối với chính quyền sở tại từ bên trong. Đồng thời, bên ngoài gia tăng áp lực với những tuyên bố của các nhân vật trong chính quyền Mỹ và phương Tây ủng hộ lực lượng chống đối, hối thúc chuyển giao quyền lực và đưa ra những khả năng can thiệp quân sự...

Nhưng, nguyên nhân sâu xa, căn bản là các nguyên nhân nội tại, bắt nguồn từ chính thực tế của đất nước và cuộc sống của người dân nơi đây.

1. Thể chế nhà nước khá đặc biệt. 
Nhiều quốc gia theo chế độ cộng hòa ra đời từ các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Tuy-ni-di và Ai Cập từ giữa thế kỷ XX đã là những nước cộng hòa, các đảng cầm quyền đã mang tên là Đảng Dân chủ (Đảng Dân chủ quốc gia Ai Cập, Tập hợp dân chủ Hiến pháp Tuy-ni-di). Nhưng trên thực tế, sau khi giành được độc lập, hầu hết các nhà lãnh đạo A-rập hiện đại này đều dần trở thành những "tổng thống vua” đứng đầu đất nước suốt đời và đều ở tư thế "truyền ngôi” cho con tựa như chế độ phong kiến. Nguyên Tổng thống Ai Cập H.Mu-ba-rắc giữ vị trí đứng đầu đất nước suốt từ năm 1981, nguyên Tổng thống Tuy-ni-di B.A-li từ năm 1987, Tổng thống Y-ê-men A. Xa-lê cũng tại vị liên tục từ năm 1978 v.v.

Thể chế nhà nước đặc biệt là một nguyên nhân dẫn đến đường lối điều hành đất nước dần bảo thủ, trì trệ, chuyên chế, mở đường cho ai thâu tóm được quyền lực nhà nước thì cũng thâu tóm luôn các nguồn tài nguyên quốc gia, tham nhũng ngày càng nặng nề, kéo dài. Theo điều tra năm 2009 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, Chính phủ Ai Cập xếp thứ 111, Y-ê-men xếp thứ 146 trên 180 quốc gia về chỉ số tham nhũng. Vì lợi ích riêng, họ khó có thể cho dân biết một cách minh bạch, tường tận các vấn đề quan trọng quốc kế, dân sinh và càng khó cho dân tham gia quyết định các chính sách quốc gia. Họ không thể thực hiện dân chủ thực chất, không thể quy tụ, đoàn kết được nhân dân. Điều kiện cá nhân cầm quyền suốt đời dễ dẫn đến lạm dụng quyền lực, độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ, gia đình trị, "cha truyền con nối”, thu vén những món lợi khổng lồ cho bản thân và gia đình, lối sống đặc quyền, đặc lợi, xa hoa tạo ra những bất công xã hội ngày càng gay gắt, tích tụ đến mức bùng phát không kiểm soát được. Sau thất bại của nguyên Tổng thống Tuy-ni-di và Ai Cập, Tổng thống Y-ê-men A.Xa-lê chấp nhận phương án chuyển giao quyền lực hòa bình và tuyên bố từ chức.

2. Đời sống nhân dân khó khăn. 
Cũng giống các nước khác, khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng rất lớn đến các nước A-rập. Tuy nhiên, do các nước này phụ thuộc quá nhiều vào nước ngoài về chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, nhất là về kinh tế (Ai Cập mỗi năm nhận 1,5 tỉ USD viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ) nên khi kinh tế toàn cầu suy giảm, nền tài chính, tiền tệ thế giới rơi vào khủng hoảng, các nước này bị tác động sớm và mạnh mẽ nhất. Tình hình kinh tế phát triển chậm, lạm phát tăng, không thể giải quyết vấn đề thất nghiệp, nhất là với thế hệ trẻ. Tình trạng thất nghiệp, đói nghèo, giá cả leo thang, mù chữ, tội phạm và tệ nạn xã hội gia tăng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa tạo nên mâu thuẫn xã hội gay gắt. Ví dụ, ở Ai Cập, hơn 40% số dân có mức thu nhập 2 USD/ngày, 1/3 số dân mù chữ, năm 2010 giá lương thực, thực phẩm tăng 20%, lạm phát lên đến 13%, thất nghiệp chiếm 25%. Ai Cập từng là một trong những "trụ cột” sản xuất lương thực của thế giới, nay lại trở thành một trong những nước nhập khẩu lớn nhất thế giới. Theo Bộ Nông nghiệp Ai Cập, năm 2010, khoảng 40% tổng sản lượng lương thực thực phẩm, trong đó có 60% bột mỳ - loại lương thực chủ yếu - được nhập khẩu. Giá ngũ cốc leo thang nhanh, riêng giá lúa mỳ đã tăng hơn 50%. Các nước khác trong khu vực tình hình không sáng sủa hơn. Ở Y-ê-men, năm 2010, tỷ lệ thất nghiệp lên đến hơn 30%…

Chính đời sống khó khăn, thiếu thốn về vật chất, lại bị o ép, thiếu dân chủ, tự do về chính trị đã khiến bất bình của dân ngày càng gia tăng. Khi các đảng phái đối lập, các nhóm Hồi giáo cực đoan trỗi dậy, được hỗ trợ của bên ngoài, nêu khẩu hiệu "dân chủ”, "chống tham nhũng”, "chống độc quyền, gia đình trị”… vốn là "gót chân Asin” của nhà cầm quyền đã lôi kéo được nhân dân. 

3. Mâu thuẫn tôn giáo, sắc tộc không được giải quyết từ gốc. 
Điều này có thể thấy rõ nhất ở Li-bi, nơi mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa các bộ tộc sống ở miền Tây (bang Tri-pô-li-a với trung tâm là thủ đô Tri-pô-li) với cư dân ở miền Đông (bang Ki-re-na-it với trung tâm là Ben-ga-di). Mâu thuẫn này đã được Mỹ và các nước đồng minh triệt để lợi dụng, ủng hộ lực lượng nổi dậy ở miền Đông chống lại Tổng thống M.Ca-đa-phi vốn là người sinh ra ở miền Tây.

Biến động chính trị do nhiều nguyên nhân, được tích tụ trong thời gian dài vừa sâu xa vừa trực tiếp, những toan tính lợi ích của các lực lượng chính trị trong mỗi nước và tham vọng cạnh tranh quyền lực, lợi ích giữa các cường quốc trên thế giới khiến cho các mâu thuẫn, xung đột ở Bắc Phi, Trung Đông thêm phức tạp, kéo dài. Khi các tổng thống đã ra đi, liệu tự do, dân chủ, công bằng, no ấm của người dân có được thực hiện? Bởi xoá bỏ một chính phủ và lập mới một chính phủ là hai việc khác nhau. Một chính phủ được bên ngoài hậu thuẫn lập nên vì lợi ích của họ thì chính phủ đó khó có thể hành động độc lập trước hết vì lợi ích của quốc gia, dân tộc mình. 

Tìm nguyên nhân cũng chính là rút ra bài học cảnh tỉnh, cảnh giác cho nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới. Với Việt Nam, bài học sâu xa, căn bản, quan trọng nhất luôn là lấy dân làm gốc. Phải "khoan thư sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc” (Trần Hưng Đạo), bởi "chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân” (Nguyễn Trãi). Khi dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, công bằng, không bức xúc vì tham nhũng, dân sẽ bảo vệ Đảng, Chính phủ. Khi đó, không một thế lực bên ngoài nào dù mạnh và mưu mô quỷ quyệt đến đâu có thể can thiệp, gây rối, lật đổ. "Nước lấy dân làm gốc. Gốc có vững, cây mới bền” (Hồ Chí Minh). Bài học không mới nhưng vẫn luôn nóng bỏng tính thời sự trong học và thực hành đối với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý - lấy dân làm gốc.

“Mùa xuân Arập”: Một năm nhìn lại


Tình hình Trung Đông - Bắc Phi năm 2011 sục sôi với những diễn biến phức tạp. Sự đối đầu từ bên trong và bên ngoài đã khiến khu vực này trở thành một điểm "nóng” khiến cả thế giới phải dõi theo. Và giờ đây, Trung Đông vẫn đang tiến những bước đi dò dẫm và đầy kịch tính trên con đường dân chủ hóa mà các cuộc cách mạng đường phố của "Mùa xuân Arập” đã kích hoạt.
Bắt đầu từ ngày 17-12-2010, một thanh niên bán hàng rong người Tunisia Mohamed Bouazizi đã tự thiêu để phản đối cách hành xử bất công của chính quyền địa phương. Hành động của Mohamed Bouazizi đã tạo nên một làn sóng nổi dậy của công chúng Tunisia, sau đó nhanh chóng lan sang Ai Cập, Bahrain và gần như tất cả các nước Arập. Sau đó vài tuần, ngày 4-1-2011, Mohamed Bouazizi đã chết trong bệnh viện mà không biết rằng, hành động phản đối của mình lại có ảnh hưởng lớn đối với khu vực đến vậy. 

Diễn biến mau lẹ, phức tạp 


Năm 2011 trôi qua, thế giới Arập đã chứng kiến những phát triển đáng chú ý, một số nhà lãnh đạo cầm quyền lâu năm bị lật đổ, đó là Zine El Abidine Ben Ali của Tunisia, Hosni Mubarak của Ai Cập, Muammar Gaddafi của Libya. Nhà lãnh đạo của Yemen Ali Abdullah Saleh cũng đã đồng ý chuyển giao quyền lực. Tuy nhiên, tại một số quốc gia khác ở vùng Arập và Bắc Phi, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội vẫn đang trong tình trạng hết sức bất ổn. 


Là nước đầu tiên lật đổ nhà lãnh đạo tháng 1-2011, Tunisia tiếp tục lôi kéo sự chú ý của khu vực và thế giới khi ngày 23-10, tại Tunisia đã diễn ra cuộc bầu cử đầu tiên sau các cuộc nổi dậy của người Arập, thu hút gần 4,3 triệu người Tunisia đăng ký tham gia. Kết quả, Đảng Hồi giáo Ennahda giành 89 ghế và chiếm đa số trong cuộc bầu cử Quốc hội. Tiếp đó, Quốc hội mới đã thành lập một chính phủ liên minh có cả các đảng không phải Hồi giáo nhưng do những diễn biến ở các nước khác trong khu vực, Tunisia vẫn là một thách thức mới cho chính sách đối ngoại của Mỹ trong khu vực. Đó là làm sao để quản lý chủ nghĩa Hồi giáo theo hướng dân chủ. 


Khi cuộc biểu tình phản đối chính quyền cựu Tổng thống Hosni Mubarak diễn ra, phần lớn dư luận và các nhà hoạt động dân chủ Ai Cập cho rằng, sự xơ cứng và không thay đổi của Ai Cập khó có thể kéo dài. Họ đã đúng nhưng không ai có thể dự đoán chính xác khi nào và sẽ thay đổi ra sao. Gần một năm trôi qua, các cuộc biểu tình và bạo lực vẫn liên tục diễn ra ở Ai Cập. Trong tháng 11 và 12-2011, tại quảng trường Tahir, trung tâm thủ đô Cairo đã diễn ra nhiều cuộc biểu tình lớn để lên án chính quyền quân sự Ai Cập. Cuộc bầu cử tổng thống được dự kiến diễn ra ở Ai Cập vào tháng 6-2012 tới chưa biết sẽ ảnh hưởng đến tương lai của đất nước Ai Cập như thế nào nhưng chắc chắn từ nay đến lúc đó, tình hình Ai Cập vẫn sẽ bất ổn. 


"Mùa xuân Arập” tràn vào Vùng Vịnh cũng gây nên các cuộc biểu tình kéo dài nhiều tuần lễ ở quảng trường Pearl của Manama (Bahrain). Ngày 14-3-2011, khoảng 2.000 binh sĩ, trong đó 1.200 binh sĩ của Saudi Arabia và 800 binh sĩ của Các Tiểu Vương quốc Arập thống nhất (UAE) đã tiến vào Bahrain theo lệnh của Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC). Quyết định đưa quân đội đến Bahrain đánh dấu việc lần đầu tiên GCC sử dụng hành động quân sự tập thể để dập tắt cuộc nổi dậy của dân chúng ở sân sau của họ. Sự can thiệp đó được coi là hành động chống lại sự can thiệp của Iran. Nhưng việc can thiệp của GCC cũng giúp thúc đẩy mâu thuẫn phe phái ngày càng tăng tại Bahrain. 


Cuộc khủng hoảng chính trị kéo dài nhiều tháng qua ở Syria tuy chưa kết thúc nhưng đang diễn tiến theo chiều hướng xấu. Chính quyền của Tổng thống Bashar al-Assad đang chịu sức ép ngày càng tăng cả từ bên trong lẫn bên ngoài, trong khi quốc tế tiếp tục bất đồng về cách thức giải quyết cuộc khủng hoảng chính trị tại quốc gia Trung Đông này. Có chung biên giới với Israel, Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq, Jordan, Lebanon và là nước Arập duy nhất liên minh với Iran, Syria đóng vai trò quan trọng trong khu vực. Đến nay, Chính quyền của Tổng thống Barack Obama và Liên minh châu Âu vẫn tìm cách ngăn chặn Syria không làm ảnh hưởng đến các ưu tiên chính sách đối ngoại của họ. Nhiều khả năng, cùng với Ai Cập, Syria sẽ nổi lên như một trong những vấn đề khu vực nổi bật trong năm 2012. 


Tình hình tại Yemen được coi là ít nóng nhất tại Trung Đông lúc này, sau khi Tổng thống Ali Abdullah Saleh chấp nhận từ bỏ quyền lực, mở ra một trang mới trong lịch sử quốc gia. Ông A.Saleh là nhà lãnh đạo thứ tư tại Bắc Phi và Trung Đông phải chia tay quyền lực tối cao, sau các ông H.Mubarak ở Ai Cập, B.Ali ở Tunisia và M.Gadhafi ở Libya. Thế nhưng Yemen vẫn còn những nguy cơ bất ổn, trong bối cảnh bạo lực vẫn chưa chấm dứt hoàn toàn dù ngày bầu cử Tổng thống đã được ấn định là 21-2-2012. 


Vai trò của tác nhân bên ngoài 


Là nhân vật lãnh đạo nổi tiếng ở Trung Đông, cựu Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak nắm quyền lãnh đạo đất nước từ năm 1981. "Mùa xuân Arập” tràn vào Trung Đông đã khiến ông H.Mubarak bị lật đổ sau hơn ba thập kỷ nắm quyền. Việc lật đổ cựu Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak không chỉ ảnh hưởng lớn đến tình hình địa chính trị ở Trung Đông mà còn ảnh hưởng tới chính sách đối ngoại của Mỹ trong khu vực. Ai Cập dưới thời ông H.Mubarak là một trong những đồng minh quan trọng và thân thiện nhất của Mỹ ở Trung Đông. Thực tế khi chế độ cựu Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak sụp đổ, Chính quyền của Tổng thống Barack Obama đã hết sức lo lắng cho các đồng minh khu vực khác, trong đó có Israel. Nhưng ngay sau đó, Mỹ đã nhanh chóng "vào cuộc”. Việc lật đổ chế độ và giết hại ông M.Gaddafi ngày 20-10-2011 là một diễn biến khu vực quan trọng. Đồng thời, cũng là một cuộc thử nghiệm cách làm mới của Mỹ trong việc sử dụng các cường quốc châu Âu trong NATO nắm giữ vai trò lãnh đạo một cuộc can thiệp quân sự. 

Ngày 19-5-2011, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã đọc bài diễn văn về tình hình Trung Đông, đưa ra quan điểm của Mỹ về tình trạng bất ổn ở khu vực. Theo đó, tham vọng của Mỹ với Trung Đông là rất lớn. Tuy nhiên, ngay sau đó, tham vọng này lại bị lu mờ bởi cách giải quyết của ông đối với cuộc xung đột Israel - Palestine. Tổng thống Barack Obama thừa nhận các đường biên giới năm 1967 là cơ sở để đạt được một thỏa thuận và quan điểm của Mỹ coi Israel là một nhà nước Do Thái và Palestine là một nước chủ quyền của người dân Palestine. Nhưng vấn đề quan trọng nhất mà bài diễn văn bỏ qua là việc xây dựng nền hòa bình Israel - Palestine như thế nào? Cuối cùng, thay vì dựa vào nền ngoại giao của Mỹ, Tổng thống Palestine Mahmoud Abbas đã và đang nỗ lực để đạt được sự công nhận một nhà nước Palestine tại Liên hợp quốc. 


"Mùa xuân Arập” cũng đã lôi kéo Liên đoàn Arập (AL) vào cuộc. Đây là hành động gây ấn tượng của AL kể từ khi thành lập năm 1945. Khi "Mùa xuân Arập” có nguy cơ ngày càng lan rộng, AL đã có những phản ứng kịp thời khá mạnh mẽ: tháng 2-2011, AL quyết định ngừng tư cách thành viên của Libi để phản đối hành động đàn áp các cuộc biểu tình của những người ủng hộ ông M.Gaddafi và sau đó ủng hộ phương Tây can thiệp quân sự chống chế độ Libi. Gần đây, AL không những tiếp tục ngừng tư cách thành viên của Syria mà còn áp đặt các biện pháp cấm vận chống chế độ Assad. Đây là những hành động mới của AL và báo hiệu tương lai AL sẽ nổi lên như một tổ chức khu vực quan trọng. 


Cùng với những biến cố này, môi trường chính trị - xã hội ở khu vực Arập giờ đây trở nên nhạy cảm hơn bao giờ hết. Saudi Arabia đã nổi lên như một thế lực có ảnh hưởng trong "Mùa xuân Arập”. Sau khi thành công đối phó với người biểu tình trong lãnh thổ của mình, Saudi Arabia tiếp tục đi đầu trong việc can thiệp vào các cuộc biểu tình ở nước láng giềng Bahrain và Saudi Arabia cũng đóng vai trò chính trong việc Tổng thống Ali Abdullah Saleh cam kết chuyển giao quyền lực ở Yemen. Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã rất nỗ lực thúc đẩy quan hệ với các nước láng giềng Arập nhằm tăng cường vai trò và vị thế của mình trong khu vực. Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ Recep Erdogan đã thực hiện một chuyến công du "Mùa xuân Arập” đến Libya, Tunisia và Ai Cập trong tháng 9-2011 với kỳ vọng "mô hình Hồi giáo ôn hòa Thổ Nhĩ Kỳ” sẽ là hình mẫu mới cho các quốc gia này sau biến cố "Mùa xuân Arập”. 


"Mùa xuân Arập” chưa kết thúc 


Làn sóng nổi dậy vẫn tiếp tục lan rộng ở thế giới Arập và không ai có thể đoán trước được câu chuyện của mỗi nước sẽ kết thúc như thế nào? Các mối quan hệ căng thẳng cho thấy giai đoạn bất ổn của cả khu vực Trung Đông. Đêm 28-11-2011, Lebanon đã nã những quả rốc két đầy khiêu khích về phía Israel, ngay lập tức Tel Aviv đã đáp trả dữ dội. Những hành động đó đã và đang châm ngòi cho những xung đột vốn luôn tồn tại giữa hai đất nước láng giềng này. Tình trạng căng thẳng cũng có thể xảy ra sau nhiều tháng bất ổn tại Syria và áp lực của lệnh trừng phạt phương Tây nhắm vào Iran vì chương trình hạt nhân của nước này. 

Ai Cập, Libya và Yemen vẫn đang viết những chương riêng của mỗi nước trong "Mùa xuân Arập” và cả thế giới đang dõi theo họ nhưng rõ ràng, tổn thất của các cuộc nổi dậy ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi là rất nghiêm trọng. Bức tranh địa - chính trị của Trung Đông và Bắc Phi vẫn đang được vẽ lại, song những bất ổn về mặt kinh tế của khu vực này được dự kiến là sẽ tiếp tục hiện hữu trong năm 2012, đặc biệt là ở Lybia, Ai Cập và Tunisia. Nhiều nền kinh tế vẫn trong điều kiện xấu hơn so với dưới thời chế độ cũ. Đặc biệt, những diễn biến gần đây cho thấy, Ai Cập và Syria tiếp tục là những điểm nóng trong giai đoạn tiếp theo của làn sóng chính biến. 


Bên cạnh sự tranh hùng giữa các nước lớn là cuộc đấu tranh tôn giáo và sắc tộc diễn ra sâu sắc, quyết liệt giữa đạo Hồi dòng Shi'a và Sunni. Tại Syria, dòng Shi’a thiểu số đang khống chế và đàn áp dòng Sunni chiếm đa số. Nước Mỹ vừa tuyên bố rút quân khỏi Iraq, bạo lực đã tràn ngập đất nước này. Điều lo ngại hơn, đất nước Iraq, nơi dòng Shi’a chiếm đa số, Iran sẽ tranh thủ để lấp khoảng trống quyền lực này và kiểm soát nguồn dầu lửa to lớn tại đây. 


"Mùa xuân Arập” đã mở ra một cơ hội cho người dân để lựa chọn ra các nhà lãnh đạo mới của họ một cách dân chủ; đồng thời cũng cung cấp cho các nhà lãnh đạo mới một cơ hội thể hiện kỹ năng lãnh đạo và hoạch định tương lai cho đất nước mình. Nhưng các nước đã tạm đi qua "Mùa xuân Arập” dẫu có thành công trong việc lật đổ các "chế độ độc tài”, hiện họ vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn ở phía trước như: làm thế nào để quản lý quá trình dân chủ, phát triển kinh tế và xây dựng bộ máy chính quyền. Đặc biệt, vấn đề càng trở nên khó khăn hơn đối với các nhà lãnh đạo được bầu một cách dân chủ nhưng hầu như lại không có kinh nghiệm chính trị của một hệ thống dân chủ. 


"Mùa xuân Arập” chắc chắn là một phát triển mang tính bước ngoặt trong lịch sử Arập. Những người dân Arập hiện nay đang xuống đường, có lực lượng và được thôi thúc bởi quyền lực, nhưng đa số là vì dân sinh, dân chủ. Họ mất niềm tin vào chính thể. Người già thì tuyệt vọng còn thanh niên thì không thấy tương lai. Vì vậy mà chừng nào các quyền lợi cơ bản của người dân chưa được bảo đảm, những cuộc nổi dậy đường phố ở Trung Đông sẽ còn tiếp diễn và "Mùa xuân Arập” còn chưa kết thúc./.
Minh Tâm

"Mùa xuân Ả Rập" như một thử thách cho tính bền vững


"Mùa xuân Ả Rập" như một thử thách cho tính bền vững






оон лавров оон пресс-конференция совещание представитель россия
Photo: RIA Novosti
Tình hình Trung Đông là một thử thách về khả năng tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc đối với cộng đồng quốc tế. Bộ trưởng Ngoại giao Nga Sergei Lavrov đã phát biểu như vậy tại diễn đàn Đại hội đồng LHQ. Theo ông, tới nay đây vẫn là một “mấu chốt nhạy cảm” chưa được giới chính trị toàn cầu tìm ra hướng tháo gỡ.
Trung Đông là cả một chủ đề riêng tại kỳ họp Đại hội đồng Liên hợp quốc năm nay. Những xung đột khu vực lâm vào bế tắc, bởi nguyên nhân trong đó có sự mâu thuẫn ý kiến của cộng đồng quốc tế. Từ diễn đàn Đại hội đồng, Bộ trưởng Ngoại giao Nga nhấn mạnh rằng, những ai quan tâm đến sự ổn định của khu vực Trung Đông và toàn thế giới, nên hành động nhất quán trên cơ sở Hiến chương LHQ. Ông Sergei Lavrov nhắc về việc, những nguyên tắc cơ bản của LHQ không thừa nhận quyền can thiệp thay đổi chế độ dưới bất kể hình thức.
Nhà ngoại giao Nga nói: “Không thể chấp nhận sự áp đặt cơ chế chính trị đất nước cho các dân tộc. Điều này đã được Tổng thống Nga Vladimir Putin bày tỏ rõ tại điện Kremlin, ngày 26 tháng 9. Chuỗi các sự kiện trong thế giới Ả Rập cũng như tại các khu vực khác, cho thấy tính phi tiền đồ của một chính sách có triển vọng tích lũy nguy hiểm những bất hòa giữa các sắc tộc, giữa các tôn giáo.”
Trong hai năm qua, một vài quốc gia ở Trung Đông và Bắc Phi đã trải qua quá trình này. Cuộc đối đầu ở Syria giữa phe đối lập và chính phủ kéo dài suốt mười tám tháng. Đấy cũng là khoảng thời gian tìm kiếm giải pháp cho tranh chấp tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.
Nga tin vào cơ hội cho những hành động tập thể. Việc làm này cần được bắt đầu bằng tuyên bố ngừng bắn, giải phóng tù binh, con tin và cung cấp bổ sung viện trợ nhân đạo. Giải pháp nhanh nhất nhằm ngăn chặn đổ máu ở Syria đã được thông cáo của “nhóm các hành động” từ Geneva trình bày. Hồi tháng Sáu năm nay, các thành viên thường trực Hội đồng Bảo an và đại diện Liên đoàn Ả Rập đã đặt chữ ký của mình dưới tài liệu, - Bộ trưởng Ngoại giao Nga nhắc. Ông cho biết: “Chúng tôi đề xuất thông qua tại Hội đồng Bảo an một nghị quyết hưởng ứng thông cáo Geneva, lấy tài liệu như một cơ sở đàm phán về khởi động giai đoạn chuyển đổi, nhưng đề nghị này đã bị chặn. Những người cản trở thông cáo Geneva sẽ chịu phải trách nhiệm rất lớn.”
Mặc dù đầy phức tạp, nhưng Syria không phải là vấn đề khu vực duy nhất. Trong chương trình nghị sự Đại hội đồng LHQ còn tồn tại cuộc xung đột Israel-Palestine và tình hình xung quanh Iran. Thay đổi đã và đang diễn ra ở các quốc gia Ả Rập được đan xen giữa những vấn đề then chốt của quan hệ quốc tế hiện đại và nổi cộm trong bối cảnh kinh tế phức tạp ở châu Âu và Mỹ.
Các nước thành viên Liên Hợp Quốc cần tìm kiếm sự đồng thuận để hợp tác ứng phó với mối đe dọa cho sự ổn định toàn cầu. Biện pháp trừng phạt đơn phương bỏ qua Liên Hiệp Quốc không thể đóng góp cho sự đoàn kết. Ông Lavrov đã nhắc đến những chế tài thương mại kinh tế và tài chính mà Mỹ dành cho Cuba, đến nay vẫn có hiệu lực. Bộ trưởng Nga gọi đó là "di tích của chiến tranh lạnh" và sự trừng phạt đơn phương nói chung là những hành động vô trách nhiệm, theo đuổi lợi ích nhất thời. Hôm nay không có chỗ cho “chiến tranh lạnh” bởi không còn tồn tại thế giới đơn cực. Nhưng không phải tất cả ai cũng sẵn sàng thừa nhận, bởi sự tin tưởng chưa trở thành cơ sở nền tảng cho các mối quan hệ quốc tế.

Mỹ đang nếm trái đắng ‘Mùa xuân Arập’


Mỹ đang nếm trái đắng ‘Mùa xuân Arập’
Trong một bài đăng trên tờ Telegraph, tác giả Con Coughlin viết những ai còn ngây thơ tin rằng “Mùa xuân A rập” đã làm cho thế giới an toàn hơn, vụ tấn công Lãnh sự quán Mỹ tại Libya đúng vào dịp kỷ niệm 11 năm sự kiện 11/9 là một lời thức tỉnh sâu sắc nhất.

Vụ Đại sứ Christopher Stevens và 3 nhân viên sứ quán khác thiệt mạng khi Lãnh sự quán Mỹ tại Benghazi (Libya) bị người biểu tình tấn công và đốt phá là một lời nhắc nhở gây sốc cho Tổng thống Barack Obama rằng những nỗ lực của Mỹ để lật đổ các chế độ mà phương Tây gọi độc tài thông qua phong trào “Mùa xuân Arập” đã không  mang lại sự ổn định cho khu vực Trung Đông vốn đầy bất ổn.
Xoáy ngầm nguy hiểm 
Theo tác giả Con Coughlin, trong hơn một năm qua, các chính trị gia ở cả hai bờ Đại Tây Dương đã dành sự ủng hộ nhiệt tình của họ để tạo ra sự thay đổi mang tính “địa chấn” trong tầng lớp cầm quyền đã thống trị khu vực Trung Đông trong nhiều thập kỷ. Một loạt các nhà lãnh đạo tại khu vực này đã phải rời bỏ quyền lực, hoặc thông qua sức mạnh của vũ khí, hoặc sức mạnh áp đảo của các cuộc biểu tình. 

Tại Washington, ngay từ khi bắt đầu nhiệm kỳ Tổng thống, ông Barack Obama đã tìm kiếm một "khởi đầu mới" cho mối quan hệ của nước Mỹ với thế giới Hồi giáo. Ông Obama đã dành sự hỗ trợ không điều kiện cho những nỗ lực nhằm tạo ra sự thay đổi tại các thủ đô Arab quan trọng, trong đó có việc khuyến khích lật đổ một trong những đồng minh lâu năm của Washington là Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak; cũng như ủng hộ chiến dịch quân sự lật đổ chế độ của Nhà lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi.
Tại London, một lập trường tương tự cũng đã được thông qua bởi Liên minh cầm quyền. Thủ tướng Anh David Cameron và cựu Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã đi đầu trong các nỗ lực của NATO vào năm ngoái nhằm thay đổi chế độ ở Tripoli. Trong khi đó, Ngoại trưởng Anh William Hague thường xuyên rao giảng với các nhân viên tại Bộ Ngoại giao về tầm quan trọng trong việc làm cho thế giới biết  nước Anh đang ủng hộ các nỗ lực cải cách, thay đổi ở Trung Đông.

Tuy nhiên, vụ Đại sứ Mỹ Christopher Stevens và các đồng nghiệp của ông bị sát hại dã man tại thành phố Benghazi của Libya đã chứng minh rằng, “làn sóng của sự thay đổi” quét khu vực Trung Đông không phải là không có rủi ro. Hiện vẫn chưa rõ ai là người chịu trách nhiệm về cuộc tấn công vào Lãnh sự quán và sát hại Đại sứ Mỹ, tuy nhiên, tấn bi kịch này cho thấy rõ ràng đang có các “dòng xoáy nguy hiểm” ngay bên dưới phong trào cải cách.

Thời điểm xảy ra vụ tấn công vào Lãnh sứ quán Mỹ tại Libya trùng với thời điểm kỷ niệm 11 năm xảy ra vụ tấn công khủng bố 11/9 vào nước Mỹ nên có nhiều lý do để quy trách nhiệm đứng đằng sau vụ việc này là  tổ chức al-Qaeda. Thật vậy, các quan chức Libya đã nhanh chóng cho rằng, Ansar al-Sharia - một nhóm Hồi giáo cực đoan được cho là có liên kết chặt chẽ với al-Qaeda đã tiến hành vụ tấn công này.

Bên cạnh những ý kiến quy trách nhiệm cho al-Qaeda, cũng có ý kiến khác cho rằng, những người trung thành với ông Gaddafi - hiện vẫn còn hoạt động tại Benghazi đứng đằng sau vụ tấn công này. Ngoài ra, cũng có luồng dư luận khác cho rằng, cuộc tấn công vào Lãnh sứ quán Mỹ đơn giản chỉ là  tác dụng phụ ngoài ý muốn của các cuộc biểu tình chống lại một bộ phim được thực hiện bởi một nhà buôn bất động sản ở California tên là Sam Bacile, trong đó có ý chế giễu Đấng tiên tri Mohammad của người Hồi giáo. Đây cũng là lý do bùng phát biểu tình và các cuộc tấn công Đại sứ quán Mỹ ở Cairo (Ai Cập) và Tunis (Tunisia).

Ông Christopher Stevens là Đại sứ Mỹ đầu tiên thiệt mạng trong khi làm nhiệm vụ kể từ sau vụ Đại sứ Mỹ Adolph Dubs tại Afghanistan bị bắt cóc và sát hại năm 1979. Thông thạo tiếng Arab, ông Stevens là một người ủng hộ nhiệt tình trong việc xây dựng mối quan hệ lâu dài của Mỹ với thế giới Arab. Được cử sang Libya lần thứ hai năm 2011 khi đang diễn ra cuộc nổi dậy chống Gadhafi. Benghazi là thủ đô của phe nổi dậy chống chính quyền Gadhafi nên Đại sứ Mỹ Stevens đặt trụ sở làm việc của mình tại thành phố này.

Việc một người hỗ trợ nhiệt tình cho chế độ mới tại Libya có một kết cục như vậy cho thấy rằng, sự can dự của phương Tây vào khu vực Bắc Phi không phải được tất cả mọi phe phái đánh giá cao. Trong khi chính phủ mới tại Libya được bầu vào tháng Bảy vừa qua nhằm theo đuổi một cuộc đối thoại thân thiện với phương Tây, vẫn còn đó nhiều phe phái, bao gồm cả những người ủng hộ đường lối Hồi giáo cứng rắn, những người muốn đất nước này tiếp tục áp dụng chính sách chống phương Tây, và những người phản đối ảnh hưởng của các cường quốc phương Tây với sự phát triển của đất nước.

Điều này cũng đúng ở nước láng giềng Ai Cập - nơi chính quyền Obama đóng vai trò đi đầu trong việc loại bỏ chế độ của Tổng thống Hosni Mubarak vào năm 2011, đám đông người biểu tình Hồi giáo đã tấn công vào Đại sứ quán Mỹ ở Cairo. Mặc dù cũng như ở Libya, chính phủ Ai Cập mới của Tổng thống Mohamed Mursi nói rằng, họ muốn duy trì quan hệ thân thiện với phương Tây, ông Mursi cũng khó có thể đưa ra một giải pháp thỏa đáng để giải quyết các cuộc biểu tình chống Mỹ có thể dẫn tới kết cục như ở Benghazi.

Bất lợi đối  với ông Obama trước kỳ bầu cử tổng thống
Vụ Đại sứ Stevens và 3 nhân viên sứ quán khác của Mỹ bị những người biểu tình Hồi giáo sát hại ở Benghazi là điều không mong muốn nhất đối với ông Obama khi đang bước vào giai đoạn cuối cùng của chiến dịch tái tranh cử chức Tổng thống Mỹ.

Là một người được xem là ủng hộ nhiệt tình đối với phong trào “Mùa xuân Arập”, Tổng thống Obama sẽ phải đối mặt với các cáo buộc cho rằng, ông đã quá mềm mỏng trong cách tiếp cận với các nhóm Hồi giáo cực đoan. Trên thực tế cho đến nay trong chiến dịch tranh cử, ông Obama đã cố gắng hết sức để tránh thảo luận về các vấn đề khó khăn trong chính sách đối ngoại như chương trình hạt nhân của Iran, hoặc số phận của Afghanistan khi quân đội Mỹ rút toàn bộ khỏi đất nước này vào cuối năm 2014…

Tổng thống Obama cũng có thể nhận thấy rằng, tại một quốc gia mệt mỏi, kiệt sức sau hơn một thập kỷ tham gia liên tục vào cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan, khó có thể giành được phiếu bầu khi đề cập đến cuộc chiến của Mỹ chống lại các chiến binh Hồi giáo. Tuy nhiên, giống như trường hợp cựu Tổng thống Jimmy Carter khi các nhà ngoại giao Mỹ bị bắt làm con tin ở Iran sau cuộc cách mạng Hồi giáo, công chúng Mỹ đang có mối quan tâm lớn khi đồng bào mình bị đặt vào con đường nguy hiểm. Họ hy vọng các nhà lãnh đạo của mình có các biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn cho các công dân Mỹ.

Tổng thống Dân chủ Jimmy Carter đã bị bật khỏi Nhà Trắng khi không thể giải cứu các con tin Mỹ bị giam cầm ở Iran. Ông Obama có thể cũng phải chịu một số phận tương tự trong cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11 tới, nếu ông không có phương án thuyết phục được cử tri Mỹ trong việc giải quyết thế hệ Hồi giáo cực đoan mới trong thế giới Arập./.

Theo VOV

“Mùa xuân Ả-rập” và sự can thiệp của phương Tây

“Mùa xuân Ả-rập” và sự can thiệp của phương Tây 

ĐCSVN) - “Mùa xuân Ả-rập” theo cách gọi của Mỹ và phương Tây về một làn sóng dân chủ mà họ đã cổ súy diễn ra từ tháng hai năm 2011 đến nay, lại rất ảm đạm, nặng mùi khói súng, bom, đạn, điêu tàn, đau thương và chết chóc.
Cái gọi là “mùa xuân Ả-rập” được lực lượng đối lập của một số nước vùng Ả-rập và Bắc Phi, có sự thao túng, hà hơi tiếp sức của lực lượng bên ngoài được tiến hành từ tháng 2 năm 2011 đến nay. Khởi đầu là một cuộc biểu tình lớn của hàng chục nghìn người diễn ra tại thủ đô Ai Cập. Liên tiếp sau đó là các cuộc biểu tình đòi lật đổ chính phủ đương thời ở các quốc gia: 
SyriaYemen, Tuynidi, Libya... Cuộc nổi dậy của lực lượng đối lập ở Libya, một đất nước chỉ có hơn sáu triệu dân, nhưng tài nguyên dầu mỏ lại đứng vào hàng thứ 2 ở Châu Phi và xếp thứ 12 trên thế giới là dấu ấn đáng buồn của "mùa xuân Ả -rập". 
  
                     Trẻ em và bóng ma chiến tranh tại Libya (Ảnh: AFP) 

Trước những diễn biến hết sức phức tạp và bất ổn ở các quốc gia vùng Ả-rập và Bắc Phi, Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) đã có một số cuộc họp thảo luận và đặc biệt tháng 3/2011, Hội đồng Bảo an LHQ đã thông qua Nghị quyết 1973 thiết lập vùng cấm bay ở Libya. Ngay sau khi nghị quyết này được thông qua, dư luận quốc tế đã cảnh báo việc lợi dụng Nghị quyết của Liên hợp quốc để thực hiện ý đồ riêng của một số nước. Thực tế diễn biến hơn bảy tháng qua phản ánh đúng những lo ngại này. Gắn mác “bảo vệ dân thường”, “lập vùng cấm bay”, NATO và Mỹ đã oanh tạc không giới hạn những mục tiêu quân sự và dân sự. Giới quan sát cho rằng: “Không thể coi các hành động trên là sứ mệnh nhân đạo” khi mà các loại máy bay, tên lửa, tàu chiến vào loại hiện đại nhất của Mỹ và NATO đã bắn phá bừa bãi xuống các làng mạc, đường phố của Libya làm hàng nghìn người bị thiệt mạng; hàng chục nghìn người bị thương; hàng trăm nghìn người mất nhà cửa phải đi tha phương cầu thực. 

“Mùa xuân Ả-rập” diễn ra được gần mười tháng và đến nay, cuộc chiến ở Libya đã bước vào giai đoạn kết thúc. Ông Gaddafi bị giết chết và thể chế của ông cũng bị sụp đổ. Lực lượng đối lập ở nước này đã tuyên bố Libya được “giải phóng”. Tuy nhiên, tại một số quốc gia khác ở vùng Ả-rập và Bắc Phi, tình hình chính trị, kinh tế - xã hội vẫn đang trong tình trạng hết sức bất ổn.
Những gì diễn ra của “mùa xuân Ả-rập” từ tháng 2 đến nay và sự kiện lần thứ 20 liên tiếp, Đại hội đồng LHQ với 186 phiếu thuận, hai phiếu chống và ba phiếu trắng chỉ trích Mỹ cấm vận Cu-ba; đồng thời, một lần nữa yêu cầu Mỹ chấm dứt lệnh cấm vận áp đặt nửa thế kỷ qua với nước này cho thấy, loài người phải tỉnh táo, không thể mơ hồ trước sự giả nhân, giả nghĩa của những thế lực hiếu chiến!
Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, loài người chứng kiến một xu thế hợp tác trong các mối quan hệ và bang giao quốc tế. Đó là điều không thể phủ nhận, là dấu hiệu thật đáng khích lệ. Nhưng thật bất ngờ, từ các cuộc xung đột sắc tộc tôn giáo rồi các cuộc chiếm đoạt tài nguyên vẫn diễn ra ở nơi này, nơi khác trên trái đất mà không khí hòa bình chưa xua tan nổi khói lửa của cuộc chiến tranh vừa nóng, vừa lạnh. Cuộc “không chiến” của Mỹ và 28 nước trong khối Bắc Đại Tây Dương sử dụng một lực lượng vượt trội về binh khí, kỹ thuật vào loại hiện đại nhất để tấn công vào một quốc gia có chủ quyền, xét về mọi mặt đều không thể chấp nhận được, nhất là khi hành động can thiệp này núp bóng Nghị quyết của LHQ.
“Mùa xuân Ả-rập” và mấy cuộc chiến tranh diễn ra trước đó như: Vùng vịnh 1991, Nam Tư, I-rắc, Áp-ga-nix-tan... làm cho những người có lương tri, có tư tưởng tiến bộ phải suy nghĩ. Những gì đang diễn ra trong “mùa xuân Ả-rập” và thực tiễn của những cuộc chiến tranh trước đó nhắc nhở chúng ta không thể mất cảnh giác. Mỗi chúng ta đều ý thức được rằng, con đường đi đến hòa bình đích thực và cuộc sống phồn vinh của toàn nhân loại sẽ phải vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhưng kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn đấu tranh của lịch sử, bài học cảnh giác và khả năng sáng tạo của con người sẽ đưa nhân loại tiến về phía trước mà không một thế lực nào có thể ngăn trở được./.

Bùi Vân Phúc

Việt Nam sẽ có “Mùa xuân Ả-rập”?


Việt Nam sẽ có “Mùa xuân Ả-rập”?


Giới phân tích quốc tế nói rằng ở Việt Nam tiềm ẩn những vấn đề có thể dẫn tới những biến cố chính trị xã hội.
Căng thẳng gia tăng[title]
Việt Nam tiềm ẩn những vấn đề có thể dẫn tới biến cố chính trị xã hội. (ABC)
Việc bắt giữ 10 nhân vật đối kháng tại Việt Nam trong tuần này cho thấy những căng thẳng gia tăng tại quốc gia này.
Quan chức công an nói rằng những người bị bắt thuộc một tổ chức hoạt động “bất bạo động” với mục đích lật đổ chính quyền hiện nay, với tên gọi Hội đồng công luật công án Bia Sơn.
Từ năm 2004 đến 2011, tổ chức này bí mật thành lập nhiều chi hội ở các thành phố và tỉnh trên khắp Việt Nam và đã tập hợp được hơn 300 thành viên, trong đó có cả Việt kiều.
Công an đã tịch thu hàng trăm tài liệu về điều lệ hoạt động của nhóm, 19 kíp nổ, 10 máy bộ đàm, hai máy tính xách tay, một máy ảnh và một máy quay phim cùng hàng chục nghìn đô-la Mỹ.
Giáo sư Adam Fforde từ Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Chiến lược thuộc Đại học Victoria ở Melbourne nói rằng vụ việc này cho thấy một cuộc khủng hoảng sâu sắc tại Việt Nam.
“Vụ bắt giữ mới đây cho thấy những người chống đối có rất nhiều vũ khí, điện đài và cả một tổ chức. Điều đó gợi ý rằng hiện tượng này đang tiếp diễn và rằng thực tế sự đối kháng có tổ chức còn lớn hơn những gì chúng ta biết”, ông Fforde nhận định.
‘Mùa xuân Ả-rập kiểu Việt Nam’
Ông Fforde nói với Cơ quan Truyền thông Quốc gia Australia ABC rằng có ba vấn đề lớn - kinh tế, tham nhũng và sự phồn thịnh tương đối – có thể dẫn tới những gì mà ông gọi là ‘Mùa xuân Ả-rập kiểu Việt Nam’.
Theo ông Fforde, khi các quốc gia chuyển sang vị thế nước có thu nhập trung bình, giống như Việt Nam hiện nay, họ cần phải cải thiện hiệu quả của nền kinh tế và nâng cấp hệ thống y tế, giáo dục cùng những phúc lợi khác cho người dân. Chính phủ Việt Nam đang cố gắng tìm kiếm giải pháp cho tất cả những lĩnh vực này nhưng cho đến nay vẫn chưa làm được.
Là người tới thăm Việt Nam nhiều lần, ông Fforde nhận thấy có sự thay đổi rất lớn trong vài năm qua và mức độ bất đồng với giới lãnh đạo cao cấp nhất và với hệ thống cũng rất lớn.
“Các thiết chế chính trị ở Việt Nam là mô hình được hình thành để chấm dứt kiểu chủ nghĩa Stalin từng xuất hiện tại Liên Xô. Theo đó, ngay trong Bộ Chính trị và cơ cấu của đảng phải có đại diện mang của các khối khác nhau như nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, v.v... nhằm chia sẻ quyền lực và tránh độc quyền như Stalin”.
“Với một nền kinh tế thị trường và những thay đổi lớn về cân bằng quyền lực ngầm trong hệ thống, cơ cấu như thế không vận hành được nữa và những doanh nghiệp nhà nước rất mạnh tìm cách len lỏi được vào các nơi. Nhìn chung, hệ thống không thể duy trì được tính cố kết và vì thế có khủng hoảng quyền lực”, ông Fforde nói.
Theo nhà phân tích này, khủng hoảng chính trị đòi hỏi phải có hình thức lãnh đạo chính trị nào đó, hay nói cách khác là cần một hình thức dân chủ hóa nào đó cho phép một số chính trị gia giỏi nắm quyền lực, nhưng điều này vẫn chưa thể xảy ra ở Việt Nam.
Ông Fforde cũng cho rằng có thể Việt Nam sẽ thấy một hình thức ‘Mùa xuân Ả-rập’ đặc thù của mình bởi hiện nay đây là một xã hội mở, người dân tự tổ chức theo nhiều cách thức.
Tuy nhiên, khi điều đó xảy ra, sẽ không có chuyện chính quyền hợp thức hóa việc sử dụng bạo lực chống lại nhân dân như ở Ai Cập

Nguyên nhân thật sự của “mùa xuân A-rập”


Nguyên nhân thật sự của “mùa xuân A-rập”

QĐND - Cũng vào dịp xuân về cách đây một năm, khu vực Trung Ðông và Bắc Phi đã diễn ra những cơn "giông bão" chính trị, có người gọi đó là “cách mạng màu” có người gọi là “cách mạng hoa nhài”, có người gọi đó là “cách mạng truyền thông” (được hiểu là các cuộc cách mạng dựa vào các phương tiện truyền thông nhất là các mạng xã hội), còn phương Tây thì gọi các sự kiện này là “mùa xuân A-rập”. Ở đó đã diễn các cuộc biểu tình chống chính phủ, từng bước đã trở thành các cuộc xung đột bạo lực vũ trang giữa quân chính phủ với các nhóm đối lập. Ở Li-bi, cuộc nội chiến đã trở thành một cuộc chiến tranh thật sự - giữa một bên là NATO, quân nổi dậy với một bên là quân chính phủ. Hậu quả là Li-bi trở nên hoang tàn và chia rẽ, Ai Cập bị rối loạn và đổ vỡ, ở Xy-ri thì hàng ngàn người bị chết, còn I-rắc tiếp tục chìm trong mâu thuẫn và khủng bố đẫm máu chưa chấm dứt sau khi Mỹ rút quân. Sự đối đầu giữa I-ran và phương Tây hiện nay đang làm gia tăng căng thẳng tại khu vực… chưa biết điều gì sẽ xảy ra khi các loại vũ khí, khí tài hiện đại sẽ được sử dụng ở đây.
Không phủ nhận rằng, ở những quốc gia trong khu vực, nhiều nhà lãnh đạo, bị lên án là “độc tài”, đã phải ra đi, nhiều cơ cấu chính trị mới được hình thành, nhưng những cơn dư chấn chính trị, vẫn đang tiếp diễn, không biết đến bao giờ mới kết thúc.
Nghĩ về “mùa xuân A-rập" trước hết người ta nghĩ về những nguyên nhân dẫn đến sự kiện này.
Về nguyên nhân bên trong, nếu xét về kinh tế, những quốc gia trong khu vực không phải là những nước nghèo, mà là những quốc gia đang phát triển, với GDP khá cao. Li-bi từng là nước giàu nhất châu Phi, GDP bình quân đầu người năm 2010 là 12.000USD. Tuy-ni-di từng là một trong những quốc gia phát triển thịnh vượng ở Bắc Phi, được xem là một điển hình kinh tế ở châu Phi. Ai Cập được lọt vào nhóm “Tám sư tử châu Phi”. Tuy nhiên, ở đây đã diễn ra sự phân cực giàu nghèo không thể chấp nhận được; điều kiện sống tồi tệ của người dân; tình trạng quan liêu tham nhũng, gia đình trị; sự hình thành và mâu thuẫn giữa các nhóm lợi ích, trước hết là lợi ích chính trị - giữa nhóm trung thành với tổng thống và nhóm thân phương Tây là những nguyên nhân bên trong dẫn đến cuộc khủng hoảng khó có thể kiểm soát. Như các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa, những người lãnh đạo lực lượng đối lập vốn là những nhân vật quan trọng trong bộ máy của chính quyền cũ, thậm chí là gần gũi với tổng thống… Điều này không chỉ tồn tại ở Tuy-ni-di mà còn ở Ai Cập, Li-bi, Xy-ri, Y-ê-men…
Theo báo chí nước ngoài, giá trị tài sản của Tổng thống Ai cập H.Mu-ba-rắc và gia đình là 20 tỷ USD, của Tổng thống Li-bi M.Ca-đa-phi lên đến 80 tỷ USD, tài sản của bà vợ thứ hai của ông này cũng lên tới 30 tỷ USD. Tình trạng độc đoán, chuyên quyền thể hiện ở sự kéo dài nhiệm kỳ của chức vụ cao nhất lên tới 24 năm - trường hợp tổng thống Tuy-ni-di, 30 năm - trường hợp tổng thống H.Mu-ba-rắc, 42 năm - trường hợp tổng thống M.Ca-đa-phi… Những mâu thuẫn được tích tụ, bị dồn nén không được giải quyết dẫn đến khủng hoảng chính trị - xã hội. Đó là điều tất yếu. Nhưng các cuộc khủng hoảng không tất yếu dẫn đến chiến tranh, đến xung đột vũ trang, đến sự can thiệp, tấn công quân sự từ bên ngoài, đến sụp đổ nhà nước… nếu như đảng chính trị - cầm quyền, người lãnh đạo có tầm nhìn xa trông rộng, biết hướng đến những giá trị cao quý hơn là tài sản, tiền bạc; nếu như ở đó người ta có tinh thần cảnh giác với các nguy cơ “diễn biến hòa bình” và biết cách xử lý tình huống khi sự kiện xảy ra.
Về nguyên nhân bên ngoài, sau “chiến tranh lạnh”, nhu cầu về nguyên liệu, nhiên liệu đã ngày càng thúc đẩy các nước lớn quan tâm đến “lục địa đen”, đến nhu cầu kiểm soát các nguồn dầu lửa, nhất là túi dầu lớn Trung Đông, Bắc Phi. Lấy Li-bi là một ví dụ. Quốc gia này có trữ lượng dầu mỏ đứng thứ 7 thế giới, lại có những đặc điểm như dầu ở Li-bi là loại ngọt nhẹ, cho ra nhiều xăng hơn, chi phí khai thác ở đây lại rất rẻ khiến “chiếc bánh vàng đen” luôn làm cho các nước lớn thèm khát.
Từ hàng thập kỷ trước đây, các nước phương Tây đã vạch ra chiến lược tiếp cận khu vực này: Người ta đã truyền bá các quan điểm “dân chủ, nhân quyền” của mình; hỗ trợ cho sự ra đời và nuôi dưỡng hàng trăm tổ chức phi chính phủ (NGOs); đầu tư, phát triển các mạng xã hội; khi công khai, lúc ngấm ngầm người ta khuyến khích những phần tử đối lập nhằm chuẩn bị cho các cuộc “cách mạng màu” - lật đổ các chính phủ hiện hữu thay bằng các chính phủ thân phương Tây. Và đương nhiên, sức mạnh “cứng” (sự can thiệp bằng quân sự) cũng đã được chuẩn bị sẵn sàng.
Trong bối cảnh quốc tế hóa nhiều mặt đời sống nhân loại, hoạt động chính trị, ngoại giao, nhất là của các nước lớn và của Liên hợp quốc là một phương thức quan trọng trong việc can thiệp của phương Tây vào các nước Trung Đông - Bắc Phi. Viện cớ “dân chủ, nhân quyền” - đánh đổ các nhà độc tài, bảo vệ quyền tự do của người dân, người ta đã bỏ qua nguyên tắc “quyền dân tộc tự quyết” được ghi trong Hiến chương Liên hợp quốc và các công ước quốc tế về quyền con người, Hội đồng Bảo an với sự chi phối của một số nước lớn phương Tây đã thông qua Nghị quyết 1973, thiết lập “vùng cấm bay” ở Li-bi, tạo cơ hội cho liên quân Mỹ, Anh, Pháp phối hợp với quân nổi dậy tấn công quân sự Li-bi, dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng chính phủ M.Ca-đa-phi. Tương tự như vậy, Nghị quyết 2014 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, khiến Tổng thống A-li Áp-đu-la Xa-lê đã phải chấp nhận từ chức và chuyển giao quyền lực ở Y-ê-men.
Các sự kiện ở Trung - Đông, Bắc Phi cho thấy, một phương thức mới của chủ nghĩa thực dân thời hội nhập và toàn cầu hóa là kết hợp “sức mạnh mềm” về “dân chủ, nhân quyền”- xây dựng và hậu thuẫn cho các lực lượng đối lập bên trong với “sức mạnh cứng”- hỗ trợ về quân sự và khi cần sẽ tấn công quân sự, trên cơ sở lợi dụng các cơ chế quốc tế để can thiệp, lật đổ những chính phủ hiện hữu lập nên những chính phủ thân phương Tây.
Còn nhớ khi bạo loạn ở Tuy-ni-di diễn ra, những lực lượng thù địch trong và ngoài nước như “mở cờ trong bụng”, họ đã công khai nói đến “cách mạng hoa sen”, nói đến các “kịch bản sụp đổ” của chế độ Cộng sản Việt Nam”. Những điều mà các thế lực thù địch đề cập đến cho thấy “diễn biến hòa bình” là một nguy cơ hiện hữu. “Giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mội đe dọa an ninh phi truyền thống…”[1] là một trong những nhiệm vụ chính trị hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hiện nay.
Bài học rút ra từ sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu, từ sự kiện “mùa xuân A-rập” là phải luôn luôn tỉnh táo phòng ngừa và sẵn sàng đối phó với các nguy cơ an ninh truyền thống và nguy cơ an ninh phi truyền thống; phòng, chống “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trước mắt cần có nhiều nỗ lực, nhiều sáng kiến thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư (khóa XI) - "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay". Một trong những mục tiêu là ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền với nhân dân; giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc, từng bước khắc phục tình trạng phân hóa giàu nghèo, thực hiện dân chủ, công bằng xã hội như Cương lĩnh của Đảng đã đề ra.
BẮC HÀ
[1] - Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG, HN, 2011, Tr 233